Xác định quan hệ pháp luật về tranh chấp quyền sử dụng đất

Thứ sáu - 12/11/2021 04:20
hình ảnh minh họa

hình ảnh minh họa

Qua phân tích một số tình huống cụ thể khi giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất mà Tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đúng quan hệ pháp luật dẫn đến nhiều bản án phải hủy, sửa; tác giả nêu ra quan điểm về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.
Tranh chấp đất đai quyền sử dụng đất (QSDĐ) hiện nay diễn ra rất phổ biến và phức tạp, chủ yếu phát sinh trong nhiều quan hệ pháp luật có liên quan đến tranh chấp thừa kế, ly hôn, hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho QSDĐ, lấn chiếm đất….., Tuy nhiên, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án tranh chấp QSDĐ còn chưa thống nhất, việc hiểu như thế nào là tranh chấp QSDĐ, tranh chấp đòi lại tài sản là QSDĐ còn khác nhau. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định khái niệm như thế nào là tranh chấp QSDĐ,  tranh chấp đòi lại tài sản là QSDĐ. Vấn đề chủ yếu được cập nhật trong các bản án dân sự của cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm giải quyết các tranh chấp về QSDĐ và các thông báo rút kinh nghiệm[1]. Thực tế, có nhiều bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp QSDĐ, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm lại nhận định là quan hệ đòi lại tài sản là tranh chấp QSDĐ, đòi lại tài sản là QSDĐ là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp QSDĐ, có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp QSDĐ, có tính quyết định trong việc xác định  trình tự, thủ tục giải quyết, tránh tình trạng khiếu kiện vượt cấp, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Không chỉ vậy, việc nhận diện quan hệ pháp luật tranh chấp QSDĐ là cơ sở để phân biệt giữa thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu QSDĐ của Tòa án và thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các cơ quan hành chính theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Tác giả đưa ra một số tình huống cụ thể khi giải quyết các vụ án tranh chấp QSDĐ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đúng quan hệ tranh chấp dẫn đến nhiều bản án phải hủy, sửa như sau:
  1. Nội dung các các vụ việc
  2. Tính huống thứ nhất:
Ông Trần Văn H có mãnh đất 2.100m2,  bao gồm 400m2 đất thổ cư. Trong đó, có phần diện tích đất chữ L diện tích là 34m2 dùng để làm hố rác. Năm 1996, bà C chuyển nhượng cho ông  T thửa đất giáp với đất ông H, nên ông H cho ông T phần đất chữ L diện tích 34m2 để trồng cây ăn trái nhưng không làm giấy tờ. Qua các năm 1999,  2003 và  năm 2012  ông H được cấp đổi  giấy chứng nhận QSDĐ  lại nhiều lần thì diện tích đất của ông H bị giảm và trong giấy chứng nhận QSDĐ của ông  H thì không có phần diện tích 34m2 .
 Đến năm 2010, gia đình ông T chuyển nhượng lại thửa đất này cho bà P. Đất bà P lúc đó chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Năm 2018 - 2019 bà P xây nhà.  Năm 2020, ông H khởi kiện bà P yêu cầu trả lại diện tích 34m2. Vì ông H cho rằng, diện tích đất này ông H chỉ cho ông  T sử dụng mà không cho bà P. Nay ông T không sử dụng nên ông đòi lại. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án xác định đây là quan hệ tranh chấp QSDĐ.
Tính huống thứ hai:
Năm 2014, bà Nguyễn Thị D có ý định hiến một phần đất diện tích 6298,4m2 tọa lạc tại xã T, cho Giáo Hội Phật Giáo tỉnh để xây dựng Chùa. Tuy nhiên, ông Nguyễn Quang V đã xin bà Nguyễn Thị D sang tên cho ông để ông để ông hiến cho Giáo hội Phật giáo với mục đích được làm trụ trì Chùa.  Gia đình bà D đã làm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ để ông V đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ, với điều kiện ông V phải hiến toàn bộ đất trên cho Giáo hội Phật giáo. Theo Luật Đất đai năm 2013 và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thì hạn điền đất tôn giáo quy định chỉ cho hiến 4995,7m2, nên phần diện tích còn lại là 1302,7m2, ông V tự ý đóng thuế đứng tên riêng, không có sự đồng ý cũng như không  trả lại cho gia đình bà D. Bà D khởi kiện ông V đòi lại diện tích đất 1302,7m2. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp QSDĐ.
Tình huống thứ ba:
Năm 1997, ông Nguyễn Tấn B được UBND huyện U  cấp giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 10.000 m2.
Năm 2015, ông B đến thăm thửa đất trên đất thì biết bà Nguyễn Thị V đang trồng cây tràm trên đất của ông.  Ông đến nhà bà V đề nghị bà khai thác cây tràm để trả lại đất cho ông.  Bà V đồng ý và hứa qua Tết nguyên đán năm 2016 sẽ khai thác cây và trả lại đất cho ông. Ngày 27/01/2016, ông B đến gặp bà V để đề nghị giao đất nhưng bà không đồng ý trả với lý do là: Có người khác cho phép bà trồng cây trên đất này nên bà V1 chỉ đồng ý khai thác cây và trả đất cho người đó (theo bà V thì ông Nguyễn Tấn B không phải là người cho bà mượn đất).
Ông B khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị V và con trai là anh T khai thác số cây tràm trên đất và trả lại cho ông diện tích 10.000,1 m2 đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là quan hệ tranh chấp QSDĐ.[2]   
Qua 03 tình huống nêu trên cho thấy, một số Tòa án cấp sơ thẩm khi thụ lý, giải quyết đều xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp QSDĐ”. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định quan hệ pháp là “kiện đòi lại tài sản là QSDĐ”.
Theo tác giả, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp QSDĐ là không đúng.  Bởi lẽ,  theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Theo khái niệm này thì có thể hiểu tranh chấp QSDĐ là tranh chấp ai là người có QSDĐ với toàn bộ thửa đất, bao gồm cả tranh chấp ranh giới giữa các thửa đất liền kề.
Ví dụ: (1)  A và B có sử dụng hai thửa đất giáp gianh với nhau. Do A lấn sang phần đất của B, 100 m2 nay B cho rằng phần đất A lần chiếm là thuộc quyền sử dụng của B, nên B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Đây là quan hệ tranh chấp QSDĐ. (2) A và B có hai thửa đất giáp gianh với nhau. Khi A làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ thì A làm thủ tục cấp luôn phần đất của B, nên B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Đây cũng là quan hệ tranh chấp QSDĐ.
 Tại Điều 166 BLDS năm 2015 quy định quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứu pháp luật”. Vì vậy, đối với các tranh chấp về đất đai như một bên đang sử dụng bằng việc thông qua việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, công nhiên sử dụng đất, được sử dụng … nếu chủ đất cũ đòi lại thì phải xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp đòi lại tài sản QSDĐ mới đúng bản chất vụ việc.  Bởi vì, việc xác định các quan hệ pháp luật liên quan đến tranh chấp QSDĐ nó còn liên quan đến thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn. Cụ thể:
 Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn  một số quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án thì: Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chng là quyn sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.
Như vậy, đối với các tranh chấp đòi lại đất cho mượn, cho ở nhờ; tranh chấp về giao dịch liên quan đến QSDĐ (chuyển nhượng, tặng cho; tranh chấp về di sản thừa kế là QSDĐ; tranh chấp tài sản chung là QSDĐ giữa vợ và chồng khi ly hôn là tranh chấp liên quan đến đất đai) không phải hòa giải tại cơ sở (UBND cấp xã). Còn các loại tranh chấp đất đai khác phải thông qua thủ tục hòa giải bắt buộc tại UBND, xã, phường, thị trấn gồm: Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai (theo khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013); tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất, cụ thể; tranh chấp ai là người có QSDĐ với toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất, bao gồm cả tranh chấp ranh giới giữa các thửa đất liền kề.
Trở lại 03 tình huống nêu trên,  Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản QSDĐ là đúng bản chất vụ án, bởi các lý do sau:
Đối với tình huống thứ nhất, năm 1996 ông Trần Văn H cho ông T sử dụng diện tích 34m2. Đến năm 2010, ông T không sử dụng mà chuyển nhượng lại cho bà P. Ông H cho rằng chỉ cho ông T đất mà không cho bà P, nên ông H khởi kiện đòi lại diện tích 34m2. Do đó, cần xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp đòi lại tài sản QSDĐ.
Đối với tính huống thứ hai,  bà D có mục đích là chuyển nhượng đất cho  ông V để hiến tặng cho Chùa. Tuy nhiên,  theo Luật Đất đai năm 2013 và quy định của UBND tỉnh thì Chùa không được cấp quá 5000m2 nên bà D yêu cầu ông V trả lại phần diện tích còn lại (1302,7m2 ). Theo đó, đây cũng là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản là QSDĐ;
 Đối với tính huống thứ ba, thì năm 1997, ông Nguyễn Tấn B cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 10.000 m2. Năm 2015, ông B xuống thăm thửa đất trên thì biết bà Nguyễn Thị V đang trồng tràm trên đất của ông. Ông có đề nghị bà V trả lại đất cho ông nhưng bà V không trả nên ông khởi kiện yêu cầu bà V trả lại diện tích đất trên. Như vậy, phải xác định đây là quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản QSDĐ.
  1. Đề xuất, kiến nghị
Từ việc xác định không đúng các quan hệ tranh chấp nêu trên dẫn đến việc áp dụng pháp luật không chính xác. Đồng thời, hiện nay khiếu kiện đòi lại QSDĐ hợp pháp của công dân là một khái niệm rất rộng, việc đòi lại QSDĐ của chủ sử dụng đất hợp pháp khác với khiếu kiện do lấn chiếm đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ  chồng  lấn………Tuy nhiên, hiện  nay chưa có văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền để xác định thế nào là quan hệ pháp luật tranh chấp QSDĐ, đòi lại tài sản là QSDĐ.
Để hiểu hiểu đúng bản chất của các quan hệ tranh chấp trong lĩnh vực đất đai tác giả kiến nghị liên ngành tư pháp trung ương có văn bản hướng dẫn tranh chấp QSDĐ,  tranh chấp đòi lại tài sản là QSDĐ theo hướng:
Đối với tranh chấp QSDĐ do bị lấn chiếm, chủ sử dụng đất hợp pháp hoặc do cấp giấy chứng nhận QSDĐ chồng lấn …hoặc các tranh chấp về giao dịch liên quan đến QSDĐ; chuyển nhượng, tặng cho; tranh chấp về di sản thừa kế là QSDĐ; tranh chấp tài sản chung là QSDĐ giữa vợ và chồng khi ly hôn thì khi thụ lý, giải quyết phải  xác định đây là quan hệ pháp luật là tranh chấp QSDĐ.
Đối  với các tranh chấp đòi lại đất cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê.. thì khi thụ lý giải quyết phải xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp đòi lại tài sản là QSDĐ.
 

[1] . Xem thêm Thông báo rút kinh nghiệm số 30/TB-VC1-DS ngày 10/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao 1
[2]. Bản án dân sự phúc thẩm số 160/2017/DS-ST ngày 31/10/2017 về kiện đòi tài sản là QSDĐ của TAND tỉnh Đồng Nai 

Tác giả bài viết: Lê Văn Quang, Viện KSND tỉnh Bình Phước
Nguồn tin: Tạp chí kiểm sát số 21/2021
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Thành viên đăng nhập

Truy cập

  • Đang truy cập: 83
  • Hôm nay: 18410
  • Tổng lượt truy cập: 9501648