Những hạn chế, vướng mắc trong việc bảo đảm quyền con người khi áp dụng biện pháp tạm giam

Thứ tư - 05/02/2020 21:35 7.505 0
Tóm tắt: Để ngăn chặn bị can, bị cáo có thể tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thìcáccơ quan tiến hành tố tụng cần phải áp dụng biện pháp tạm giam trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tuy nhiên,trong thực tế áp dụng biện pháp tạm giam còn có nhiều vướng mắc, bất cập dẫn tới có nhiều trường hợp bị can, bị cáo nếu không tạm giam cũng không tiếp tục phạm tội, cản trở hoạt động tố tụng như trường hợp hành vi phạm tội rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội tự thú, thành khẩn khai nhận, ăn năn, hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả…, nhưng vẫn có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam.

Để ngăn chặn bị can, bị cáo có thể tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thìcáccơ quan tiến hành tố tụng cần phải áp dụng biện pháp tạm giam trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tuy nhiên,trong thực tế áp dụng biện pháp tạm giam còn có nhiều vướng mắc, bất cập dẫn tới có nhiều trường hợp bị can, bị cáo nếu không tạm giam cũng không tiếp tục phạm tội, cản trở hoạt động tố tụng như trường hợp hành vi phạm tội rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội tự thú, thành khẩn khai nhận, ăn năn, hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả…, nhưng vẫn có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam. 
Tâm lý của phần đông người dân cũng như người tiến hành tố tụng vẫn mặc nhiên hiểu là người bị tình nghi phạm tội, người bị buộc tội là tội phạm nên phải tạm giam để trừng phạt, mà chưa hiểu thấu đáo nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Thực tế, hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta có thời điểm có đến 80% số người bị khởi tố bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam khi bị điều tra, truy tố, xét xử. Nhiều trường hợp lẽ ra họ được tại ngoại để điều tra, truy tố, xét xử hoặc chờ thi hành án, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ; trong đó có nhiềutrường hợp oan, sai. Việc lạm dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn tiền xét xử đã xâm hại nghiêm trọng đến một số quyền căn bản của con người, gây thiệt hại nghiêm trọng đến xã hội và giảm lòng tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp hình sự. Về mặt xã hội, nó còn gây tốn kém về chi phí tố tụng và chi phí của Nhà nước khi phải xây dựng buồng giam và các chế độ quản lý không cần thiết.
Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập
- Vướng mắc do các quy định của pháp luật
Thứ nhất, căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với loại tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại Khoản 1 Điều 119 BLTTHS “Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng”, căn cứ “có thể áp dụng” mang tính tuỳ nghi. Quy định không cụ thể trường hợp nào phải áp dụng, trường hợp nào không, dẫn tới nếu người có thẩm quyền tố tụng không áp dụng biện pháp tạm giam với bị can, bị cáo mà bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc bỏ trốn thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lại có nguy cơ bị xử lý về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự. Vì thế, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có tâm lý là cứ phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì phải áp dụng biện pháp tạm giam. Quy định này dễ bị lạm dụng hoặc dẫn tới lạm dụng tạm giam trong các giai đoạn tố tụng.
Thứ hai,quy định về trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc xem xét quyết định hủy bỏ hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác tại Khoản 2 Điều 125 và Khoản 7 Điều 173 BLTTHS còn mang tính thụ động, giao quyền quyết định cho các cơ quan tiến hành tố tụng mà không có tính bắt buộc nên các cơ quan tiến hành tố tụng có thể thực hiện hoặc không thực hiện. Thực tế người bị tạm giam được huỷ bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn chiếm tỷ lệ rất thấp.
Thứ ba,căn cứ áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong giai đoạn truy tố được quy định tại Điều 241 BLTTHS “Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này”. Quy định “có quyền quyết định”mang tính tuỳ nghi, dẫn tớiviệc thay thế biện pháp tạm giam qua biện pháp khác trong giai đoạn này dễ bị nghi ngờ có tiêu cực. Nên Viện kiểm sát thường tiếp tục tạm giam bị can với lý do “để đảm bảo việc truy tố”, mặc dù nhiều trường hợp không tạm giam bị can thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc truy tố như các trường hợp phạm tội quả tang, căn cứ đã rõ, bị can thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị can tỏ ra ăn năn hối cải.
Thứ tư,Điều 278 BLTTHS quy định về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong giai đoạn xét xử “Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ toạ phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định; Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa”. Quy định về căn cứ tạm giam trong giai đoạn xét xử “quyết định” và “nếu thấy cần tiếp tục” mang tính chung chung, tuỳ nghi,  không rõ ràng về căn cứ, nên người có thẩm quyền tại Toà án cũng có tâm lý ngại thay đổi biện pháp tạm giam cho bị can, bị cáo vì dễ bị nghi ngờ có tiêu cực, và thường là tiếp tục tạm giam với bị can, bị cáo cho đến khi đi thi hành án.
Thứ năm,quy định về tạm giam bị cáo sau khi tuyên ántại Điều 329 BLTTHS “Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà bị xử phạt tù nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành án thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo; thời hạn tạm giam bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án...”. Quy định về căn cứ tiếp tục tạm giam của điều luật “xét thấy cần tiếp tục” mang tính tuỳ nghi, theo nhận định chủ quan của Hội đồng xét xử. Điều này dẫn tới nếu bị cáo đang bị tạm giam thì đương nhiên cứ tiếp tục bị tạm giam tiếp, và dẫn tới thực tế là số người bị tạm giam trong giai đoạn sau khi tuyên án, chờ thi hành án chiếm tỷ cao.
Thứ sáu,các quy định về căn cứ áp dụng, thay đổi biện pháp tạm giam trong các giai đoạn tố tụng không rõ ràng, mang tính tuỳ nghi theo nhận định chủ quan của từng người vì thế nếu sau khi thay thế biện pháp tạm giam sang biện pháp ngăn chặn khác như cấm đi khởi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền, mà bị can, bị cáo đó bỏ trốn hay tiếp tục phạm tội mới, thì cán bộ đề xuất, cán bộ lãnh đạo ký quyết định thay thế biện pháp tạm giam của các cơ quan tiến hành tố tụng có nguy cơ bị khởi tố bị can về tội “Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù” quy định tại Điều 378 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt cao nhất có thể đến 10 năm tù (thực tế vào năm 2011, Trưởng công an Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh là người có văn bản đề nghị thay đổi biện pháp tạm giam cho bị can Huỳnh Lê Hoàng, Phó Viện trưởng VKSND Thành phố Trà Vinh đã ký quyết định thay đổi biện pháp tạm giam, sau đó bị can này trốn sang nước Nhật Bản, vì thế hai cán bộ lãnh đạo này đã bị xử lý về hành vi “Tha người trái phép”). Chính từ việc BLTTHS không quy định rõ ràng căn cứ để thay đổi biện pháp ngăn chặn, nên khi thay đổi biện pháp ngăn chặn làm cho người tiến hành tố tụng bị phạm tội, dẫn tới tâm lý “cầu toàn” là không thay thế biện pháp tạm giam, mà cứ tiếp tục ra lệnh tạm giam với lý do là “để đảm bảo việc truy tố”; “đảm bảo việc xét xử”; “đảm bảo việc thi hành án”,mà chưa xem xét tới hoặc không thể xem xét tới quyền con người của bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam. Hậu quả của việc tiếp tục bị tạm giam làquyền con người bị xâm phạm, bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Thứ bảy,chế độ trách nhiệm đối với người tiến hành tố tụng chưa được quy định rõ ràng, minh bạch, vì thế khó có căn cứ xử lýtrách nhiệm với người có thẩm quyền nếu họ có hành vi viphạm quyền con người với người bị buộc tội.
- Vướng mắc do các yếu tố khác:
+ Điều kiện về trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động điều tra: Các trang thiết bị phục vụ cho việc điều tra, các hệ thống camera giám sát trong các khu dân cư, các trục đường giao thông hầu như không có, việc truy xuất dữ liệu, tìm chứng cứ để khám phá các vụ án là rất hạn chế. Hoạt động điều tra chủ yếu qua nắm thông tin của người dân cung cấp rồi sàng lọc đối tượng nghi vấn để truy tìm thủ phạm. Do vậy, các Cơ quan điều tra thường muốn lạm dụng việc tạm giam để điều tra vụ án được hiệu quả, vì khi bị tạm giam các bị can thường có xu hướng thành khẩn khai báo, cung cấp các chứng cứ, dấu vết tội phạm đầy đủ, Cơ quan điều tra có thể căn cứ vào đó để mở rộng điều tra làm rõ thêm các đồng phạm. Nếu không áp dụng biện pháp tạm giam thì phần nhiều sẽ không đủ chứng cứ để xử lý vụ