Hành vi của Lưu Văn Đ và Lưu Văn T phạm tội gì?

Hành vi của Lưu Văn Đ và Lưu Văn T phạm tội gì?
Vào khoảng 19 giờ, ngày 13 tháng 01 năm 2014, Lưu Văn T (sinh ngày: 18/9/1999) bàn bạc và rủ Lưu Văn Đ (sinh ngày 07/7/1996; T là em ruột của Đ) đi đến tiệm điện thoại của anh S ở thôn ĐL, xã ĐN, huyện BĐ, tỉnh BP, mục đích tìm tài sản (điện thoại) chiếm đoạt bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, Đ đồng ý. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô chở T đến tiệm điện thoại của anh S.
 Đến nơi, Đ đứng ở bên ngoài còn T đi vào gặp anh S giả vờ đem bán điện thoại Nokia 3110C của T và nói với anh S có nhu cầu mua lại điện thoại mới và T yêu cầu anh Sang lấy điện thoại mới đắt tiền nhất của cửa hàng ra cho T xem, anh S tưởng T có nhu cầu mua thật nên đã vào bên trong lấy 02 chiếc điện thoại ra đưa cho T xem. Sau một hồi xem T thống nhất mua hết 02 chiếc sau đó yêu cầu anh S đem đi tải nhạc, trong lúc anh S đang tải nhạc thì T yêu cầu anh S cho xem lại chiếc điện thoại vừa hỏi mua, khi anh S đưa lại cho T xong anh S vừa quay vào bên trong chép nhạc tiếp cho chiếc điện thoại còn lại thì T bỏ chạy ra bên ngoài leo lên xe mà Đ đang nổ máy đợi sẵn cùng tẩu thoát. Anh S phát hiện sự việc tri hô “cướp, cướp” nên mọi người đuổi bắt được Đ, T cùng tang vật. Theo kết luận định giá thì chiếc điện thoại mà T, Đ chiếm đoạt có giá trị là 2.900.000 đồng.
Sau khi vụ án xảy ra có nhiều quan điểm khác nhau, nhình chung lại có 03 quan điểm:
Quan điểm thứ nhất, cho rằng hành vi của T, Đ đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự. Bởi vì, xuất phát từ việc không có tiền tiêu xài nên T bàn bạc cùng với Đ đi đến tiệm điện thoại của anh S mục đích tìm cách chiếm đoạt điện thoại; thủ đoạn mà T, Đ bàn nhau là giả vờ vào bán điện thoại cũ sau đó nói có nhu cầu mua điện thoại mới khi chủ sở hữu đã lấy tài sản ra cho xem thì T tìm cách làm cho chủ sở hữu bị vướng mắc, lợi dụng cơ hội đó lấy tài sản nhanh chóng chạy ra bên ngoài lên xe Đ đang nổ máy đợi sẵn cùng tẩu thoát. Hành vi của T, Đ đã hoàn thành do đã lấy được tài sản. Và hành vi của T, Đ đã đáp ứng đủ 02 dấu hiệu đặc trưng của tội “Cướp giật tài sản”: Một là tự tạo ra tình huống làm cho chủ sở hữu tài sản bị vướng bận (như yêu cầu chép nhạc), hai là nhanh chóng tẩu thoát. Và nếu khởi tố về tội này thì hành vi của T sẽ không xem xét xử lý hình sự vì T chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (tính đến ngày thực hiện hành vi T mới 14 tuổi 4 tháng 25 ngày), như vậy chỉ khởi tố đối với hành vi của Đ về tội “Cướp giật tài sản”.
Quan điểm thứ hai, cho rằng hành vi của T, Đ phạm vào tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 137 Bộ luật hình sự. Nếu khởi tố về tội này thì hành vi của T không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự vì T không đủ tuổi chỉ xử lý đối với hành vi của Đ với vai trò giúp sức. Bởi lẽ, trước khi đến tiệm của anh S thì T, Đ đã bàn bạc với nhau về việc chiếm đoạt tài sản. Mặt khác, lúc vào gặp anh S thì T giả vờ hỏi mua nhiều thứ, sau đó yêu cầu anh S chép nhạc rồi yêu cầu anh S đem tài sản ra cho xem lại, khi anh S vừa quay vào bên trong nhà thì T nhanh chóng bỏ chạy ra bên ngoài lên xe Đ tẩu thoát. Rõ ràng hành vi của T là muốn làm cho anh S rơi vào hoàn cảnh bị vướng mắc, sơ hở, lu bu rồi chiếm đoạt tài sản, hành vi của T, Đ đã hoàn thành do đã có được tài sản, giá trị là 2.900.000 đồng. Trong tình huống này anh S không thể rượt đuổi kịp theo T, Đ do anh S đang đứng bên trong nhà có tủ, cửa ngăn cản. Do vậy hành vi của Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 137 của Bộ luật hình sự. 
Quan điểm thứ 3, thì cho rằng hành vi của T, Đ đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự. Riêng hành vi của T không xem xét xử lý hình sự như hai quan điểm nêu trên chỉ khởi tố đối với hành vi của Đ. Theo quan điểm này thì nhận định hành vi của T, Đ ngay từ đầu đã cùng bàn bạc với nhau là đến tiệm điện thoại của anh S mục đích tìm cách chiếm đoạt tài sản. Và để tiếp cận được tài sản thì T, Đ đã dùng thủ đoạn gian dối là giả vờ vào kêu bán điện thoại cũ sau đó hỏi mua điện thoại mới đắt tiền hơn nhiều lần so với giá trị của điện thoại cũ anh S tưởng T có nhu cầu mua thật nên đã lấy tài sản giao cho T xem (ở đây hành vi giao tài sản là hoàn toàn tự nguyện chứ T không lén lút hay tự lấy tài sản của anh S, cũng không bất ngờ giật lấy từ trên tay của anh S) sau khi xem thì T đợi đồng thời cũng tạo ra hoàn cảnh để anh S bận rộn rồi chiếm đoạt tài sản sau đó chạy ra ngoài cùng Đ tẩu thoát. Đồng thời cho rằng hành vi của T, Đ đã hoàn thành khi đã chiếm đoạt được tài sản.
Qua 03 quan điểm phân tích, đánh giá nêu trên bản thân tôi cơ bản đồng tình với quan điểm thứ 3, bởi vì xét về mặt lý luận thì T, Đ đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, mặt khác hành vi của T là gian dối ngay từ đầu nhằm lừa gạt anh S (giả vờ hỏi mua điện thoại mới) để anh S tự nguyện giao tài sản rồi chiếm đoạt. Ở đây có thể thấy dấu hiệu giao tài sản sẽ mang yếu tố quyết định đến việc định tội danh đối với hành vi của T, Đ. Rõ ràng nếu hành vi mà T hiên ngang hoặc công khai lấy tài sản của S hay có hành vi giật bất ngờ đối với chủ sở hữu tài sản thì khác nhưng ở đây anh S tự nguyện giao tài sản cho T, T lợi dụng lúc anh S bận rộn nên nhanh chân tẩu thoát, việc tẩu thoát chỉ mang yếu tố là T cố chiếm cho bằng được tài sản chứ không phải là dấu hiệu đặc trưng của tội “Cướp giật tài sản”.
Theo tôi biết trong thực tế sẽ có rất nhiều người hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng tại các địa phương sẽ điều tra, truy tố, xét xử đối với Đ về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, để có cách nhìn đúng đắn, chính thống hơn về đường lối giải quyết về vụ án nêu trên tôi mong nhận được nhiều ý kiến phản hồi của các đồng chí trong Ngành.

Tác giả bài viết: Trương Thanh Tuấn - Viện KSND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.