Một số ý kiến từ thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, truy tố và xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các hành vi về cho vay lãi nặng cho thấy vẫn còn có nhiều cách tính lãi để xác định tiền thu lợi bất chính, bởi vì, hành vi cho vay lãi nặng rất đa dạng, phức tạp nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thi hành. Bài viết nêu lên thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc xử lý Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
1. Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 quy định cấu thành cơ bản của Tội cho vay lãi trong giao dịch dân sự, theo đó người phạm tội này khi cho vay với mức lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015. Trong đó,  khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 quy định các bên có thỏa thuận về lãi suất không được vượt quá 20%/năm của khoản vay. Ngoài điều kiện về lãi suất, hành vi phạm tội trên còn phải có đủ một trong các điều kiện là thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Tuy nhiên, khi áp dụng vẫn còn có nhiều cách hiểu và áp dụng cách tính lãi để xác định tiền thu lợi bất chính. Bởi vì, hành vi cho vay lãi nặng rất đa dạng như: Mức lãi suất cho vay để cấu thành tội phạm là gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 BLDS năm 2015 và số tiền thu lợi bất chính là số tiền lãi suất của người cho vay đã nhận được của người vay từ 30.000.000 đồng trở lên, nhưng cách tính lãi suất, tiền thu lợi, tiền truy thu hiện nay còn có nhiều cách hiểu chưa thống nhất. Tác giả đưa ra một vụ án cụ thể để bạn đọc cùng tham khảo nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HS-ST ngày 29/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện P nhận định và tuyên:
Từ đầu tháng 8/2017 đến ngày 26/9/2017, Lê Quý Q đã giúp Lê Đình T cho 64 người dân trên địa bàn huyện P vay tổng số tiền là 1.016.000.000 đồng. Trong đó, tổng số tiền gốc T, Q đã thu được là 749.840.000 đồng. Thu lợi bất chính (tiền lãi và phí) tổng số tiền 258.210.000 đồng. Còn lại tổng số tiền gốc là 226.160.000 đồng Q và T chưa thu được, cụ thể:
Nếu vay số tiền 10.000.000 đồng, người vay phải trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 500.000 đồng (gồm tiền gốc là 400.000 đồng/ngày và tiền lãi là 100.000 đồng/ngày). Tổng số tiền gốc và lãi phải trả trong vòng 25 ngày là 12.500.000 đồng. Ngoài ra, người vay còn phải trả thêm phí thu với số tiền 800.000 đồng là chi phí của Q, T đi thu tiền góp hàng ngày của người vay. Tuy nhiên, T và Q trừ tiền chỉ còn được nhận số tiền 8.200.000 đồng, trả góp 23 ngày còn lại mỗi ngày 500.000 đồng, thành tiền 11.500.000 đồng. Nếu vay số tiền 5.000.000 đồng, người vay phải trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng (gồm tiền gốc 200.000 đồng/ngày, tiền lãi 50.000 đồng/ngày). Tổng tiền gốc và lãi phải trả trong vòng 25 ngày là 6.250.000 đồng. Tuy nhiên, T và Q trừ 400.000 đồng tiền thu phí, thu trước 02 ngày là 500.000 đồng, người vay tiền chỉ còn nhận được 4.100.000 đồng, trả góp 23 ngày còn lại, mỗi ngày 250.000 đồng, thành tiền 5.750.000 đồng. Như vậy, với số tiền vay 10.000.000 đồng trong vòng 25 ngày thì T, Q thu được 2.500.000 đồng tiền lãi thì lãi suất cho vay sẽ là 1%/ngày (tương đương 30%/tháng). Cụ thể:
Nguyễn Thị P vay 04 lần với tổng số tiền 35.000.000 đồng, P đã trả  được 27.600.000 đồng tiền gốc, còn nợ 7.4000.000 đồng. T thu lợi số tiền  9.200.000 đồng gồm 2.300.000 đồng tiền phí và 6.900.000 đồng tiền lãi; Nguyễn Thanh T vay 03 lần, tổng số tiền 50.000.000 đồng, đã trả tiền gốc 42.800.000 đồng, số tiền gốc còn nợ là 7.200.000 đồng. T thu lợi số tiền 14.700.000 đồng (10.700.000 đồng tiền lãi và 4.000.000 đồng tiền phí); Nguyễn Thị H vay 04 lần, tổng số tiền 24.000.000 đồng, đã trả tiền gốc là 19.520.000 đồng, số tiền gốc còn nợ là 4.480.000 đồng. T thu lợi số tiền 6.380.000 đồng  (4.880.000 đồng tiền lãi và 1.500.000 đồng tiền phí); Huỳnh Hoa T vay 03 lần, tổng số tiền vay 15.000.000 đồng, đã trả tiền gốc là 11.000.000 đồng (2.750.000 đồng tiền lãi và 1.000.000 đồng tiền phí)…
Về vật chứng vụ án, bản án tuyên buộc T phải giao nộp số tiền thu được vào ngân sách nhà nước là 749.840.000 đồng. Buộc những người đi vay phải nộp lại số tiền gốc còn nợ của T để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Qua bản án nêu trên, hiện đang có nhiều ý kiến chưa thống nhất về cách tính tiền thu lợi bất chính, tiền truy thu để làm căn cứ xử lý hình sự:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, việc tính lãi suất như trên gộp hết tất cả tiền thu lãi để xác định tiền thu lợi bất chính là chưa chính xác mà cần phải tính lãi suất vượt trên 20%/năm cộng với tiền thu phí để từ đó tính tiền thu lợi bất chính. Đó là, lãi suất mà pháp luật quy định cho phép người cho vay không vượt quá 20%/năm: 12 tháng = 1,666%/tháng (1,666%/tháng là lãi suất pháp luật cho phép). Tức là, số tiền lãi suất vượt từ 1,67%/tháng trở lên sau khi trừ đi lãi suất mà pháp luật cho phép còn lại mới coi là tiền thu lợi bất chính, cộng với tiền thu phí nếu đủ 30.000.000 đồng thì mới xử lý Q và T về Tội cho vay lãi nặng. Có nghĩa là, số tiền lãi suất Q và T thu được trong tổng số tiền cho vay 10.000.000 đồng là 2.500.000 đồng - lãi xuất 1,666%/tháng (lãi suất pháp luật cho phép) là 150.060 đồng = 2.349.940 đồng là số tiền của Q và T thu lợi bất chính.
Ý kiến của tác giả cho rằng, bản án căn cứ vào số tiền Q và T thu lãi suất để tính tiền thu lợi bất chính mà không trừ số tiền lãi mà pháp luật cho phép người cho vay và người vay thỏa thuận (không quá 20%/năm) theo quy định của BLDS và nhân 5 lần, còn lại là tiền thu lợi bất chính; bản án tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước toàn bộ số tiền lãi mà Q và T thu được và tuyên tịch thu số tiền mà người đi vay chưa trả được số tiền gốc là không chính xác, bởi lẽ.
 Thứ nhất, tiền thu lợi bất chính trong vụ án trên của Q và T cần phải tính như sau: Toàn bộ số tiền lãi thu được của tất cả các hợp đồng cho vay trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Điều 468 BLDS năm 2015, tức là mức lãi suất 20%/năm : 12 tháng = 1,666%/tháng x 5 lần = 8,33%  (8,33%/tháng là lãi suất vay hợp pháp), còn lại số tiền lãi cao hơn 8,33%/tháng, cộng với tiền thu phí dịch vụ là số tiền thu lợi bất chính, nếu đủ 30.000.000 đồng là đủ căn cứ để xử lý hình sự. Nói cách khác, số tiền vay 10.000.000 đồng, trả góp 500.000 đồng/ngày thời hạn là 25 ngày; tổng cả tiền gốc và lãi là 12.500.000 đồng; có nghĩa lãi suất là 30%/tháng – 8,33%/tháng. Tức là: 2.500.000 đồng mà Q và T thu được – 833.000 đồng là mức lãi suất mà pháp luật cho phép = 1.667.000 đồng, tiền lãi suất vượt quá quy định của pháp luật là tiền thu lợi bất chính cộng với tiền thu phí).
Vì trong thực tế, có một số trường hợp cùng một lúc đối tượng cho vay nhiều người và một người cùng lúc làm nhiều hợp đồng để vay tiền và thường các đối tượng cho vay còn thu thêm phần phí (tức là phí làm hồ sơ). Ngoài ra, hành vi cho vay có nhiều hình thức khác nhau, người cho vay và người vay có thể thực hiện bằng hợp đồng viết, giấy biên nhận, có thể chỉ là hợp đồng miệng. Trong hợp đồng cho vay, thường các đối tượng cho vay không ghi thỏa thuận về lãi suất, chỉ có ghi số tiền vay, ngày trả trong hợp đồng và các hợp đồng vay có thời hạn phải thanh toán tiền vay từ 15 đến 30 ngày hoặc 42 ngày và các bên tự thỏa thuận lãi bằng miệng chứ không ghi trong hợp đồng. Thông thường, bên cho vay có hai hình thức vay là cho vay lãi ngày (lãi đứng) là 1,5%/ngày tương đương với 45%/tháng và cho vay trả góp hàng ngày với mức lãi suất từ 20% đến 30%/tháng và thường các đối tượng cho vay lập hợp đồng từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Ngoài ra, trong một số trường hợp khi cho vay, các đối tượng thường thu thêm một khoản phí dịch vụ là 10% của số tiền vay cho lần đầu, 5% cho những lần vay tiếp theo. Theo đó, khi định tội không cần phải tách từng hợp đồng vay để tính tiền thu lợi bất chính như hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 (Thông tư liên tịch số 02/2001) của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999 đối với các Tội trộm cắp tài sản hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai, đối với số tiền thu lợi bất chính vượt quá 8,33% cần phải tuyên trả lại cho người vay. Bởi vì, trong vụ án cho vay lãi nặng bao giờ cũng có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nếu không tuyên trả cho người vay thì có được gọi là tiền thu lợi bất chính không (tiền chiếm đoạt), nhằm bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người vay. Về nguyên tắc, khi giải quyết vụ án hình sự phải xác định người vay là bị hại hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên số tiền lãi mà người vay đã trả cho Q và T vượt quá quy định cần trả lại cho vay chứ không thể tịch thu sung công quỹ nhà nước, vì người đi vay hoàn toàn không có lỗi trong vụ án.
Thứ ba, bản án tuyên buộc người đi vay phải nộp lại số tiền gốc chưa  trả vào ngân sách nhà nước là không thỏa đáng. Bởi vì, số tiền này là tiền  giao dịch dân sự giữa người cho vay và người vay. Do các bên thực hiện chưa xong hợp đồng thì bị phát hiện. Nếu người cho vay có yêu cầu thì trong bản án sẽ tuyên buộc người vay trả lại cho người cho vay theo giao dịch dân sự. Vì thực tế số tiền này là tiền hợp pháp của người cho vay.  Còn nếu người cho vay chưa có yêu cầu thì sẽ tách ra khởi kiện bằng vụ  án khác khi có yêu cầu, chứ không thể tuyên buộc người vay nộp lại số tiền này. Nếu bản án tuyên như trên, người vay sẽ không hợp tác hoặc không tố giác tội phạm, gây khó  khăn cho việc xử lý vụ án.
Đồng thời, ngày 13/9/2019, Tòa án nhân dân tối cao (TAND) đã ban hành Công văn số 212/TANDTC-PC  thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử. Trong đó có hướng dẫn về xử lý tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đã tháo gỡ một số vướng mắc trong việc xử lý các hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, đây chỉ là văn bản hướng dẫn mang tính chất tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ án liên quan đến xử lý tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Bởi vì, theo hướng dẫn của TAND tối cao thì:
Thứ nhất, khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tống số tiền lãi thu được từ việc cho vay hay là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi tiền lãi theo quy định của BLDS được tính như sau:  Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay”.  Do đó, khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của BLDS.
Như vậy, hướng dẫn của TAND tối cao vẫn còn chung chung. Bởi vì, Điều 201 BLHS năm 2015 quy định hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự..... Trong khi đó, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định mức lãi xuất trong dân sự do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác….
Như vậy, cách giải thích của TAND tối cao nêu trên  theo tác giả là chưa thỏa đáng mà cần phải xác định tiền lãi suất mà người cho vay thu vượt quá quy định mà pháp luật cho phép đó là, tiền thu lợi bất chính trong vụ án cần phải tính là toàn bộ số tiền lãi thu được của tất cả các hợp đồng cho vay trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Điều 468 BLDS năm 2015 tức là, mức lãi suất 20%/năm: 12 tháng = 1,666%/tháng x 5 lần = 8,33%. Số tiền lãi cao hơn 8,33%/ tháng mới là số tiền thu lợi bất chính nếu đủ 30.000.000đồng là đủ căn cứ để xử lý hình sự.  Nếu tính như hướng dẫn của TAND tối cao thì  tổng số tiền lãi mà người cho vay vượt từ 21%/năm có nghĩa là từ 1,667%/tháng trở lên để tính tiền thu lợi bất chính làm căn cứ xử lý hình sự là chưa chính xác.
Thứ hai, theo hướng dẫn của TAND tối cao thì khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay và khoản lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm có xác định là phương tiện phạm tội đế tịch thu sung quỹ nhà nước hay trả cho người phạm tội được hướng dẫn như sau:
Đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) được xác định là phương tiện phạm tội, nên bị tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, đồng thời hoạt động cho vay lãi nặng thường gắn với các băng nhóm tội phạm. Do đó, để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thì Tòa án phải tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước khoản tiền này.
Như vậy, theo hướng dẫn của TAND tối cao thì toàn bộ số tiền gốc cho vay được xác định là phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là chưa phù hợp với thực tiễn. Bởi vì, trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử cho thấy nhiều trường hợp đối tượng cho vay trả góp hàng ngày nhưng người cho vay chưa thu được.
 Ví dụ: Từ đầu tháng 8/2018 đến ngày 26/9/2018, Lê Quý Q và Lê Đình T cho 64 người dân trên địa bàn huyện P vay tổng số tiền là 1.016.000.000 đồng. Trong đó, tổng số tiền gốc T, Q đã thu được là 749.840.000 đồng. Thu lợi bất chính  (tiền lãi và phí tổng số tiền 258.210.000 đồng). Còn lại tổng số tiền gốc là 226.160.000 đồng Q và T chưa thu được do bị phát hiện và bắt giữ.
Như vậy, số tiền 226.160.000 đồng Q và T chưa thu được không thể tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Trong trường hợp này nếu tuyên sung quỹ nhà nước số tiền 226.160.000 đồng là rất khó cho việc thi hành án cũng như người vay sẽ không hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án. Do vậy, theo quan điểm của tác giả thì đối với số tiền người cho vay (tiền gốc) đã thu được cần tịch thu sung quỹ nhà nước, còn lại đối với số tiền gốc người cho vay chưa trả được, chưa phát sinh việc thu lãi nêu người cho vay có yêu cầu thì tuyên buộc người vay trả, nếu người cho vay không yêu cầu thì phải tách ra khi nào người cho vay có yêu cầu thì khởi kiện thành một vụ án dân sự.
2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra giải quyết các vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của xã hội, kịp thời ngăn ngừa hành vi cho vay lãi nặng nhằm tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm thì Kiểm sát viên (KSV) khi được phân công giải quyết vụ án phải thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, thông thường các vụ án cho vay lãi nặng được phát hiện qua các nguồn tin báo, tố giác của công dân nên khi Cơ quan điều tra phát hiện thông báo cho Viện kiểm sát, KSV được phân công tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cần phải phối hợp ngay với Cơ quan điều tra lấy lời khai của người tố giác, người bị tố giác, nhất là việc thu thập chứng cứ. Bởi lẽ, các vụ án cho vay lãi nặng là một trong những loại án khó về thu thập chứng cứ nên phải được lưu ý tiến hành thu thập ngay từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, tố giác. Điều tra viên, KSV phải xác định đây là một trong những công tác quan trọng ngay từ đầu, không thể thiếu nhằm thu thập chứng cứ, tài liệu, dấu vết được kịp thời, toàn diện, khách quan, chính xác, đúng bản chất vụ án như: Cần phải thu giữ ngay các loại sổ cho vay, sổ theo dõi khách hàng vay, hợp đồng vay, giấy biên nhận và các loại tài liệu khác như điện thoại di động, máy tính, tờ rơi, quảng cáo… và ngay sau khi thu thập được phải cho người bị tố giác, người bị tinh nghi, người bị tạm giữ giải trình ngay các tài liệu thu giữ. Khi kiểm sát việc giải trình, KSV cần chú ý đến các ký hiệu ghi trong sổ theo dõi cho vay. Bởi vì, các đối tượng khi cho vay thường ghi số tiền viết tắt, như 10.000.000 đồng thì chỉ ghi con số 10 hoặc trong sổ theo dõi thu nợ hằng ngày, các đối tượng thường chỉ ghi ký hiệu nhưng không rõ ràng hoặc trong các hợp đồng vay chỉ ghi giấy biên nhận không rõ số tiền vay, ngày trả… Do vậy, không giải trình kịp thời sẽ dễ dẫn đến các đối tượng cho vay lãi nặng khai báo gian dối hoặc tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho công tác thu thập chứng cứ.
Thứ hai, về cách tính lãi suất. Thông thường, các đối tượng cho vay không ghi lãi suất nên KSV cần phải phối hợp ngay với Điều tra viên lấy lời khai các đối tượng để làm rõ từng hợp đồng, số tiền vay, ngày vay, ngày trả, lãi suất, số tiền đã thu được, số tiền chưa thu được. Ngoài ra, KSV cần phải lưu ý có nhiều trường hợp trong hợp đồng đối tượng cho vay ghi thời hạn trả trong vòng 25 ngày, nhưng người vay mới trả được 20 ngày thì đối tượng cho vay tiếp tục lập hợp đồng mới.
Ví dụ: Ngày 01/11/2018, A và B thỏa thuận vay số tiền 10.000.000 đồng, hình thức vay trả góp trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày 500.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, B đã trả cho A được 20 ngày từ ngày 01/11/2018 đến ngày 20/11/2018 với số tiền là 10.000.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng, do B không có khả năng trả, nên ngày 20/11/2018, B tiếp tục làm hợp đồng với A vay số tiền 10.000.000 đồng cũng là hình thức trả góp, thời hạn trả là 25 ngày, mỗi ngày 500.000 đồng với lãi suất là 30%/tháng. Nhưng thực tế, A chỉ đưa cho B số tiền là 7.000.000 đồng trong số 10.000.000 đồng của hợp đồng ngày 20/11/2018. Do theo hợp đồng ngày 01/11/2018, B còn 05 ngày chưa trả cho A với số tiền là 2.500.000 đồng nên A trừ số tiền nợ và trừ tiền thu phí làm hồ sơ lần hai là 500.000 đồng. B trả được 20 ngày với số tiền là 10.000.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng do B không có khả năng trả nên đến ngày thứ 20 thì A và B tiếp tục làm hợp đồng vay lần ba và vay số tiền là 10.000.000 đồng. Nhưng B thực nhận được 7.200.000 đồng vì do B còn nợ 2.500.000 đồng của hợp đồng lần thứ hai và 300.000 đồng tiền phí. Trong trường hợp này, KSV cần phải làm rõ những lần vay, ngày vay, ngày trả, số tiền đã trả, số tiền còn lại để từ đó có căn cứ tính tiền thu lợi bất chính.
Thứ ba, thông thường người vay tiền không được giữ hợp đồng hoặc giấy biên nhận và nhiều trường hợp đi vay tiền sử dụng vào việc vi phạm pháp luật như đánh bạc, ghi số đề, mua ma túy sử dụng… nên khi người vay biết được các đối tượng cho vay bị bắt không hợp tác với Cơ quan điều tra. Theo đó, khi làm việc với những người vay trong trường hợp này, KSV cần phải phối hợp với Điều tra viên lấy lời khai ngay của người vay và phải giải thích về chính sách khoan hồng đối với họ để họ hợp tác, khai báo rõ ràng, làm chứng cứ buộc tội đối với các đối tượng cho vay lãi nặng.
Thứ tư, nếu số tiền thu lợi bất chính dưới 100.000.000 đồng thì không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và các đối tượng cho vay lãi nặng thường không cư trú tại địa phương nên khi phát hiện hành vi vi phạm, KSV cần phải phối hợp ngay với Điều tra viên nhanh chóng củng cố chứng cứ bằng việc cho các đối tượng cho vay, người vay giải trình, và lấy lời khai ngay để có căn cứ xử lý, tránh trường hợp thu thập chứng cứ không nhanh chóng. Sau đó, cần khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú nếu cần thiết, tránh việc đối tượng mua chuộc người vay và tiêu hủy chứng cứ.
Thứ năm, để công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có liên quan đến Tội cho vay lãi nặng thì VKSND tối cao cần tăng cường sơ kết, tổng kết thực tiễn để đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra theo chuyên đề đối với loại tội phạm này, cần tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý, phong cách, lề lối làm việc. Đối với Lãnh đạo và KSV đòi hỏi phải vững vàng về đạo đức cách mạng, có bản lĩnh nghề nghiệp, chuyên sâu về nghiệp vụ, cần xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, KSV chuyên sâu về giải quyết các vụ án liên quan đến loại tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Thứ sáu, các cơ quan, ban ngành, các tổ chức xã hội cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật, nhằm nâng cao nhận thức và sự cảnh giác của người dân. Đồng thời, tăng cường công tác thanh, kiểm tra đối với các chủ thể kinh doanh dịch vụ cầm đồ, thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành tổ chức tổng kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các chủ cơ sở cầm đồ và xử lý nghiêm các chủ kinh doanh vi phạm, những chủ thể này thường có hoạt động cho vay lãi nặng. Các lực lượng chức năng cần tập trung triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, các cơ quan trong việc quản lý, giám sát và trao đổi thông tin nhằm kịp thời nắm tình hình, kịp thời phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử nghiêm các vụ vi phạm về cho vay lãi nặng, các vụ đòi nợ, siết nợ thuê trái pháp luật nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm.
3. Một số kiến nghị, đề xuất
Hiện nay TAND tối cao đã có văn bản giải đáp thắc mắc về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, nhưng đây chỉ là văn bản giải đáp thắc mắc tham khảo để áp dụng trong ngành Tòa án chứ không phải làvăn bản có hiệu lực pháp luật để áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử nên đề nghị liên ngành tư pháp trung ương cần sớm có văn bản hướng dẫn Điều 201 BLHS năm 2015 theo hướng:
Một là, tiền thu lợi bất chính cần phải tính như sau: Toàn bộ số tiền lãi thu được của tất cả các hợp đồng cho vay trừ đi số tiền lãi suất theo quy định của Điều 468 BLDS năm 2015, tức là mức lãi suất 20%/năm : 12 tháng = 1,666%/ (1,666%/tháng là lãi hợp pháp) còn 1,666%/tháng x 5 lần = 8,33% (từ1,667%/tháng đến 8,33%/tháng là lãi suất vay vi phạm về pháp luật dân sự), còn lại số tiền lãi cao hơn 8,33%/tháng, cộng với tiền thu phí dịch vụ là số tiền thu lợi bất chính nếu đủ 30.000.000đồng là  đủ căn cứ để xử lý hình sự. Theo đó, khi định tội không cần phải tách từng hợp đồng vay để tính tiền thu lợi bất chính như hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001.  
Đối với số tiền thu lợi bất chính vượt quá 8,33% cần phải tuyên trả lại cho người vay. Đối với số tiền gốc chưa trả, nếu người cho vay có yêu cầu thì tuyên buộc người vay trả lại cho người cho vay theo đúng quy định như trong giao dịch dân sự.
Hai là, trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử hiện nay có những trường hợp sau khi tội phạm bị phát hiện người vay bỏ đi khỏi địa phương. Nhưng  trong quá trình điều tra thu giữ được sổ ghi nợ của người cho vay và lời khai của người cho vay giải trình phù hợp với số tiền vay, số tiền lãi, tiền thu lợi bất chính, nhưng không làm việc được với người vay. Trong trường hợp này liên ngành tư pháp trung ương cần phải có hướng dẫn theo hướng, trong trường hợp lời khai của bị can, bị cáo phù hợp với chứng cứ khác thu thập được (sổ theo dõi cho vay) là đủ căn cứ để xử lý về hình sự. Bởi vì, việc thu thập chứng cứ như lời khai của bị can, bị cáo phù hợp với chứng cứ khác (sổ theo dõi cho vay) là đủ căn cứ để xử lý chứ không nhất thiết phải làm việc được với người vay thì mới có căn cứ xử lý. Còn đối với khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay trong quá trình giải quyết vụ án cần thông báo theo quy định của pháp luật nếu trong thời hạn luật định mà người vay được trả lại tiền thu lợi bất chính của người cho vay không đến cơ quan có thẩm quyền để làm việc hoặc để nhận tiền thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
Ba là, việc phát hiện các vụ việc liên quan đến cho vay lãi nặng thường gặp khó khăn do các bên thỏa thuận dân sự bằng miệng hoặc các hợp đồng giả không thể hiện lãi suất thực tế. Chế tài xử lý quá nhẹ so với lợi nhuận mà các đối tượng thu được. Tội cho vay lãi nặng được coi là tội ít nghiêm trọng theo khoản 1 Điều 201 BLHS năm 2015, nên trong trường hợp này không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam các đối tượng để đấu tranh, mở rộng điều tra vụ án và thường các đối tượng cho vay từ nhiều địa phương khác đến không có nơi cư trú ổn định, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử. Đồng thời, khung hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ là quá nhẹ, không đủ để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, theo tác giả đề nghị xem xét sửa đổi khoản 1 Điều 201 BLHS năm 2015 theo hướng: Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm./.

Tác giả bài viết: Lê Văn Quang - Viện KSND huyện Lộc Ninh

Nguồn tin: Tạp chí Kiểm sát số: 04/2020