Một số quy định mới về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm án hình sự

Thứ năm - 25/08/2016 23:55
Ngành kiểm sát

Ngành kiểm sát

Bài viết của Tiến sĩ, Kiểm sát viên cao cấp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước được đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 16/2016.
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định“Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp”. Hiến pháp năm 2013,  Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014 và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 tiếp tục quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng. So với BLTTHS năm 2003, thì nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND quy định tại BLTTHS năm 2015 về cơ bản vẫn giữ nguyên, nhưng quy định cụ thể, rõ ràng hơn và có một số điểm mới. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi sẽ trình bày một số nhiệm vụ, quyền hạn mới của Kiểm sát viên (KSV) trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS năm 2015 và một số kinh nghiệm thực tiễn hoạt động của KSV khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa.
1. Một số quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa
1.1. Xem xét, giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Kế thừa các quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong BLTTHS năm 2003 và Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Thông tư liên tịch số 01/2010), BLTTHS năm 2015 tiếp tục quy định chế định này và có một số điểm mới cơ bản như sau:
Một là, về số lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung, BTTTHS năm 2015 quy định “Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần” (khoản 2 Điều 174). Quy định này thể hiện sự chặt chẽ hơn, tránh sự tùy tiện, lạm dụng việc trả hồ sơ quá nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Hai là, về căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tại khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015 quy định gồm có bốn căn cứ, so với BLTTHS năm 2003 có ba căn cứ. Các căn cứ được quy định rõ ràng và cụ thể hơn đó là:
- Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 (quy định hiện hành là những chứng cứ quan trọng đối với vụ án) mà không thể bổ sung tại phiên tòa được. Quy định này nhằm pháp điển hóa những hướng dẫn phù hợp được áp dụng trong thực tiễn của Thông tư liên tịch số 01/2010;
- Ngoài hành vi mà VKSND đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự (BLHS) quy định là tội phạm (quy định hiện hành là bị cáo phạm một tội khác);
- Còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can (quy định hiện hành có đồng phạm khác). Như vậy, BLTTHS đã bổ sung thêm căn cứ nếu có người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can là căn cứ để Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
- Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (quy định hiện hành là khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chứ không quy định vi phạm đó ở giai đoạn tố tụng nào).
Ba là, để phù hợp với Luật tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2014 và tạo cơ sở để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời bảo đảm tính linh hoạt trong thực tiễn, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra không đúng theo quy định BLTTHS và Thông tư liên tịch 01/2010, làm thời gian giải quyết vụ án kéo dài. Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà có thể tự mình tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ hoặc yêu cầu VKSND bổ sung chứng cứ, tài liệu (các Điều 252 và 284). Đồng thời khoản 2 Điều 280 BLTTHS năm 2015 cũng đã xử lý những bất cập trong thực tế khi áp dụng BLTTHS năm 2003 và mở rộng quyền cho VKSND, khi đã ra quyết định truy tố mà “phát hiện căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ”.
1.2. Kiểm sát thủ tục tố tụng khi tham gia phiên tòa
- KSV phải kiểm sát thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm vụ án hình sự theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 254 BLTTHS năm 2015. Chú ý đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tù chung thân, tử hình thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. BLTTHS năm 2003 quy định chỉ trong trường hợp bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, thì HĐXX gồm có hai Thẩm phán và ba Hội thẩm, còn BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm trường hợp bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tù chung thân, thì HĐXX cũng gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
- Quy định về chỉ định người bào chữa: BLTTHS năm 2015 mở rộng diện phải chỉ định người bào chữa. Ngoài những quy định như khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003, thì khoản 1 Điều 76 BLTTHS năm 2015 quy định thêm đối với bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân.
- KSV phải đề nghị tạm ngừng phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 BLTTHS năm 2015. Đây là quy định hoàn toàn mới của BLTTHS năm 2015 để phù hợp với thực tiễn, bảo đảm đồng bộ với Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 251 BLTTHS năm 2015 quy định:
1. Việc xét xử có thể tạm ngừng khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa và có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
b) Do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng họ có thể tham gia lại phiên tòa trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
c) Vắng mặt Thư ký Tòa án tại phiên tòa.
Khoản 2 Điều 251 BLTTHS năm 2015 quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục tạm ngừng phiên tòa và trường hợp hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa không thể xét xử vụ án thì phải chuyển sang thủ tục hoãn phiên tòa.
- Khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm: “Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiển sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó” . Như vậy, Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà VKSND đã truy tố, sau khi đã trả hồ sơ để truy tố lại mà VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Khi áp dụng quy định này vào thực tiễn sẽ gặp vướng mắc trong trường hợp nếu tội danh nặng hơn đó thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp trên hoặc các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa tham gia (các trường hợp chỉ định người bào chữa). Tòa án chỉ xét xử được tội danh nặng hơn tội danh mà VKS truy tố trong trường hợp tội danh nặng hơn đó vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp mình, còn đối với tội danh nặng hơn đó thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp trên mà Tòa án vẫn xét xử thì sẽ vi phạm thẩm quyền xét xử quy định tại Điều 268 BLTTHS năm 2015 hoặc các trường hợp bắt buộc có Luật sư tham gia, nếu Tòa án xét xử là vi phạm quy định tại Điều 76 BLTTHS năm 2015. Ví dụ VKSND cấp huyện truy tố bị cáo về tội cố ý gây thương tích theo khoản 5 Điều 134 BLHS năm 2915, nhưng Tòa án có căn cứ cho rằng bị cáo phạm tội giết người. Sau khi trả hồ sơ để VKS xem xét lại việc truy tố, nhưng VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Trong trường hợp này, Tòa án cấp huyện phải xử lý như thế nào? Vướng mắc này, cần phải có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền theo theo hướng “xét xử tội danh nặng hơn thuộc thẩm quyền và không trái với quy định khác của BLHS, BLTTHS”
1.3. Kiểm sát về trình tự xét hỏi
Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS năm 2003, tuỳ theo tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo hoặc vụ án có nhiều bị cáo để Hội đồng xét xử tiến hành hỏi bị cáo trước hay hỏi người làm chứng, người bị hại trước. Song nhất thiết phải tuân thủ trình tự xét hỏi từ Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa rồi mới đến Hội thẩm, sau đó đến KSV, đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Quy định này đặt nặng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về HĐXX, không phù hợp với nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Để khắc phục hạn chế này, thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; tăng sự chủ động của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, BLTTHS năm 2015 không quy định trình tự xét hỏi như vậy, mà sửa đổi theo hướng tùy vào tính chất của từng vụ án cụ thể, trình tự xét hỏi có thể thay đổi và do chủ tọa phiên tòa quyết định.
Theo khoản 2 Điều 307 BLTTHS quy định: “2. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc xét hỏi”. Như vậy, chủ tọa phiên tòa là người điều hành việc xét hỏi và là người hỏi trước, sau đó trình tự xét hỏi do chủ tọa phiên tòa quyết định, người nào hỏi trước, người nào hỏi sau, theo thứ tự hợp lý. Đồng thời, các Điều 309, 310 và 311 của BLTTHS năm 2015 còn bổ sung quy định khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác, hỏi người làm chứng, hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
2. Tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa
Tranh tụng trong tố tụng hình sự là một quá trình tố tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, trong đó các chủ thể tham gia tố tụng có quyền đưa ra những tài liệu, chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước HĐXX theo các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. BLTTHS năm 2003 tuy đã có nhiều quy định về sự bình đẳng giữa các bên buộc tội và bên bào chữa trong việc đưa ra các chứng cứ, trách nhiệm tranh luận và đối đáp dân chủ, nhưng chưa ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự. BLTTHS năm 2015 đã quy định “Tranh tụng” thành một nguyên tắc quy định tại Điều 26 và cụ thể nguyên tắc này tại Mục V Chương XXI “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” được quy định từ Điều 306 đến Điều 325, đây có thể xem là giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng hình sự.
Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của KSV trong phần thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự về cơ bản cũng như các quy định tại Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của VKSND tối cao như: Công bố bản cáo trạng; xét hỏi; xem xét vật chứng, trình bày luận tội, tranh luận. KSV phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và cần tập trung làm tốt các nhiệm vụ xét hỏi, trình bày luận tội, tranh luận tại phiên tòa.
2.1. Một số kinh nghiệm phân tích, đánh giá chứng cứ; phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội khi viết dự thảo luận tội
Qua nghiên cứu bài phát biểu bản luận tội của KSV đã công bố tại các phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trong những năm qua, thấy rằng bản luận tội đã đáp ứng các yêu cầu cơ bản theo hướng dẫn của VKSND tối cao, nhiều bản luận tội mang tính thuyết phục cao đã bảo vệ cáo trạng, quan điểm truy tố của VKSND được HĐXX chấp nhận và được dư luận xã hội đánh giá cao, đồng tình ủng hộ. Nhưng cũng rất nhiều bản dự thảo luận tội viết rất sơ sài, đặc biệt phần phân tích đánh giá chứng cứ và phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội thường sử dụng gần như nguyên văn nội dung cáo trạng đưa vào, nên khi phát biểu bị trùng lắp nội dung, tạo sự nhàm chán cho người nghe dẫn đến hình ảnh, vị trí, vai trò của KSV tại phiên tòa mờ nhạt. Do vậy, khi xây dựng dự thảo luận tội trước tiên phải đảm bảo các yêu cầu, nội dung theo quy định tại Điều 321 BLTTHS năm 2015 và hướng dẫn viết luận tội của VKSND tối cao.
Điều 321. Luận tội của Kiểm sát viên
1. Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
2. Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
3. Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
4. Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Nội dung cơ bản của luận tội đã được quy định cụ thể trong BLTTHS và yêu cầu KSV được phân công thực hành quyền công tố (THQCT), kiểm sát xét xử (KSXX) sơ thẩm vụ án hình sự, khi xây dựng dự thảo luận tội phải đáp ứng các nội dung luật định trên, khắc phục tình trạng viết dự thảo luận tội trong thời gian vừa qua.
Nội dung khoản 1 Điều 321 BLTTHS năm 2015 là một trong những yêu cầu của luận tội đòi hỏi tính khách quan, có căn cứ, chính xác, cụ thể và là yêu cầu cơ bản đầu tiên của luận tội. Ngoài ra, luận tội phải có tính thuyết phục, giáo dục và phòng ngừa tội phạm; về văn phong, ngôn ngữ  phải được viết với văn phong trong sáng, mạch lạc, dễ hiểu; bố cục phải chặt chẽ, logic; từ ngữ phải chính xác, phổ thông mang tính pháp lý, phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Tránh sử dụng các từ địa phương, từ tối nghĩa, trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng một số thuật ngữ của đồng bào dân tộc thì khi sử dụng các thuật ngữ này phải giải thích nội dung, ý nghĩa của thuật ngữ bằng tiếng Việt. Nội dung khoản 2, 3 Điều 321 BLTTHS năm 2015 không có gì mới so với hướng dẫn về mẫu viết luận tội của VKSND tối cao bố cục gồm 3 phần mở đầu, nội dung, kết luận.
Để khắc phục những hạn chế khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cần lưu ý những nội dung sau:
- Khi phân tích đánh giá chứng cứ cần lưu ý:
+ Trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, KSV phải đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ để xác định được sự thật của vụ án; xác định tội phạm đã xảy ra và người phạm tội; hành vi phạm tội đã diễn ra như­­ thế nào, viện dẫn các tài liệu, chứng cứ như lời khai của bị cáo, người làm chứng, bị hại, kết quả giám định, các chứng từ… có nêu bút lục để chứng minh. Sau khi chứng minh toàn bộ hành vi phạm tội, lưu ý cả hậu quả của tội phạm, ý thức chủ quan.
 + Trường hợp bị cáo không nhận tội, người làm chứng khai mâu thuẫn hoặc theo hướng gỡ tội cho bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác (NTGTT) đưa ra quan điểm trái quan điểm truy tố của cáo trạng, thì KSV phải lập luận, so sánh với lời khai của các đồng phạm, kết quả giám định, định giá tài sản, thực nghiệm điều tra, các biên bản khám nghiệm, kiểm tra, thu giữ vật chứng, giám định pháp y, sổ sách, chứng từ, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng... Từ đó, bác bỏ hoặc chấp nhận lời khai không nhận tội và viện dẫn chứng cứ chứng minh sự thật vụ án.
+ Trường hợp bị cáo nhận tội cũng phải phân tích, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ khác để xác định tính khách quan, phù hợp của hệ thống chứng cứ buộc tội. Tuyệt đối tránh trường hợp sử dụng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội (khoản 2 Điều 98 BLTTHS năm 2015).
 + KSV đánh giá tổng hợp, kết luận về sự việc phạm tội, người phạm tội và viện dẫn các chứng cứ để chứng minh tội phạm như: Các biên bản khám nghiệm, kiểm tra, thu giữ vật chứng, giám định pháp y, sổ sách, chứng từ, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng… trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa (có phân tích, đánh giá những mâu thuẫn để kết luận đúng, sai rõ ràng). Trên cơ sở đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, khẳng định nội dung truy tố của bản cáo trạng là hoàn toàn đúng hoặc có vấn đề gì cần thay đổi như: Rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, kết luận tội nhẹ hơn... Đối với những vấn đề, tình tiết mới phát hiện tại phiên tòa có thể làm thay đổi nội dung, tính chất của vụ án, nếu chưa được thẩm tra đầy đủ, chưa có đủ căn cứ thì không thể kết luận mà có thể đề nghị HĐXX quay lại trình tự xét hỏi hoặc phải đề nghị tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, đồ vật, tài liệu.
- Phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, vị trí, trách nhiệm của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
+ KSV ngoài nắm chắc các quy định của pháp luật, nội dung, các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, còn phải chịu khó đọc, nghiên cứu các tài liệu, bài báo viết hay, mang tính nghị luận xã hội để tích lũy, sử dụng phù hợp tính chất, mức độ trong từng vụ án.
+ Trên cơ sở đánh giá chứng cứ để phân tích đánh giá chung tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm, xem xét mục đích, động cơ phạm tội, mức độ hậu quả tác hại do tội phạm gây ra như: Gây mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, quyền tự do thân thể được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân ... (chú ý phân tích đánh giá hậu quả tác hại về các mặt kinh tế, chính trị, trật tự trị an), cần đánh giá đúng mức, không thổi phồng sự việc; phân tích các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo (từng bị cáo trong vụ án đồng phạm). Xác định nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.
2.2. Tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa
Tranh luận của KSV tại phiên tòa là một nội dung quan trọng và KSV cần lưu ý thực hiện tốt các nội dung sau:
Một là, chuẩn bị đề cương xét hỏi, đề cương kiểm sát xét xử, dự kiến những tình huống phát sinh tại phiên tòa. KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, nắm chắc nội dung của vụ án, các chứng cứ buộc tội, gỡ tội. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, KSV phải nghiên cứu đầy đủ các lời khai, bản cung của bị can, của những NTGTT khác, biên bản đối chất, nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án. Từ đó hệ thống các chứng cứ buộc tội, gồm có lời khai nhận tội của bị can, lời khai người làm chứng về các tình tiết liên quan đến hành vi của bị can, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng, giám định chuyên môn… Đây là các căn cứ để KSV tiến hành tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những NTGTT khác tại phiên tòa; hệ thống các chứng cứ gỡ tội, gồm lời khai bị can, người làm chứng và các tài liệu khác khẳng định bị can không phạm tội hoặc phạm tội nhẹ hơn. Thực tiễn hiện nay, người bào chữa, thậm chí cả HĐXX khi đánh giá chứng cứ, tài liệu đã thu thập, kiểm tra tại phiên tòa có mâu thuẫn, như lời khai của bị can không phù hợp với hiện trường, không phù hợp với diễn biến vụ án thì kết luận theo nguyên tắc suy đoán vô tội. Do vậy, KSV phải phân tích, đánh giá tổng hợp chứng cứ, giải quyết các mâu thuẫn một cách khách quan, khoa học để chứng minh sự thật vụ án, tranh tụng với người bào chữa, bị cáo và thuyết phục HĐXX bảo vệ chân lý.
- Xây dựng đề cương kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX  và những NTGTT khác tại phiên tòa một cách có trình tự, logic theo đúng quy định BLTTHS. Khi thực hiện nhiệm vụ, KSV cần đánh dấu những hoạt động nào HĐXX và những NTGTT tại phiên tòa chấp hành đúng pháp luật, những hoạt động nào vi phạm hoặc còn thiếu sót để kịp thời đề nghị HĐXX khắc phục, bổ sung. Nhiệm vụ kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa đã được quy định cụ thể trong BLTTHS và khi xét xử các vụ án hình sự đều phải tuân theo, nếu KSV làm tốt công tác chuẩn bị đề cương thực hiện nhiệm vụ này, sẽ giúp KSV tập trung thực hiện tốt công tác THQCT.
- KSV phải dự kiến trước những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa và những NTGTT khác đưa ra trong phiên toà. Thường đó là những vấn đề về đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân bị cáo, những điểm mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án, vai trò của bị cáo trong đồng phạm… chuẩn bị lý lẽ để bác bỏ những quan điểm sai trái, không đúng của bị cáo, người bào chữa trên cơ sở viện dẫn chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, đường lối, chính sách pháp luật.
Thứ hai, KSV phải thường xuyên nghiên cứu, nắm vững các quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015, các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành, đặc biệt các yếu tố cấu thành tội phạm, các khái niệm về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS… Chuẩn bị các văn bản pháp luật có liên quan, nên lưu trữ thành hệ thống trong máy vi tính, để chủ động tranh tụng tại phiên tòa. Qua theo dõi một số phiên tòa, người bào chữa thường cắt xén hoặc thêm bớt nội dung văn bản quy phạm pháp luật theo hướng có lợi cho bài bào chữa, nên KSV phải sử dụng chính xác nội dung, tinh thần của văn bản đó để bác bỏ quan điểm của người bào chữa.
Thứ ba, tại phiên tòa, KSV phải tập trung chú ý theo dõi, lắng nghe và ghi chép đầy đủ ý kiến cơ bản, ý chính của bị cáo, người bào chữa và những NTGTT, hệ thống các nội dung chính cần đối đáp lại; từ đó phải kịp thời bổ sung những căn cứ pháp lý, những tài liệu, chứng cứ cần phân tích, đánh giá, sử dụng để tranh luận, đối đáp không trùng lắp, đầy đủ, ngắn gọn và chặt chẽ mang tính thuyết phục để bảo vệ quan điểm của VKS.
Theo quy định tại Điều 322 BLTTHS năm 2015, thì người bào chữa và NTGTT có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu của mình để đối đáp với KSV. Trường hợp chứng cứ, tài liệu này người bào chữa đưa ra trong quá trình truy tố, chuẩn bị xét xử, thì KSV phải được nhận, sẽ có thời gian xem xét, đánh giá, nhận định và có quan điểm của mình; nhưng nếu tại phiên tòa người bào chữa và NTGTT đưa ra chứng cứ, tài liệu mới phát sinh, thì KSV phải kiểm tra nguồn gốc, tính hợp pháp của tài liệu đó để có lập luận, đối đáp. KSV phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, NTGTT khác tại phiên tòa.Trường hợp tài liệu, chứng cứ mới phát sinh làm thay đổi sự thật vụ án và không thể kiểm tra để đánh giá về tính khách quan, việc thu thập có tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, thì KSV đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại Điều 251 BLTTHS năm 2015; còn những chứng cứ, tài liệu mới không làm thay đổi sự thật vụ án, việc thu thập trái quy định của pháp luật, thì đề nghị HĐXX không chấp nhận.
Thứ tư, KSV phải tự rèn luyện kỹ năng tranh luận, đối đáp thông qua việc tự đào tạo, rèn luyện kỹ năng hùng biện mang tính thuyết phục, rèn luyện tác phong tự tin, trình bày mạch lạc, lưu loát, thái độ bình tĩnh, đúng mực, tôn trọng người đối đáp, tranh luận, ứng xử có văn hóa tại phiên tòa. Thực tiễn, khi nghe KSV báo cáo án, Lãnh đạo Viện, Phòng nghiệp vụ và một số KSV có kinh nghiệm nên đặt ra các câu hỏi phản biện, những tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa như bị cáo không nhận tội, người làm chứng khai khác với quá trình điều tra, truy tố hoặc các tình tiết làm thay đổi bản chất vụ án để KSV nêu ra ý kiến bảo vệ quan điểm của mình. Đặc biệt, cần rèn luyện khả năng phản ứng linh hoạt trước các tình huống, vấn đề mới phát sinh tại phiên tòa, bằng cách VKS địa phương nên dành một thời gian nhất định để các KSV có trình độ, tham gia kiểm sát xét xử nhiều vụ án hình sự trong đơn vị trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm về hoạt động đối đáp tranh luận cho các đồng nghiệp, đồng thời đây cũng là thời gian để hướng dẫn, kèm cho các KSV mới để họ ngày càng vững vàng trong công tác THQCT, KSXX sơ thẩm vụ án hình sự, đặc biệt là trong kỹ năng tranh luận.
Với những quy định của BLTTHS năm 2015 và yêu cầu cải cách tư pháp, đặc biệt các quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13), nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26) đòi hỏi KSV phải tự mình rèn luyện, học tập bổ sung kiến thức về khoa học pháp lý, điều tra tội phạm học, tội phạm học, kiến thức xã hội … với tinh thần trách nhiệm cao, trau dồi kỹ năng nghiệp vụ, đổi mới phương pháp làm việc, khắc phục khó khăn để nâng cao hiệu quả trong công tác THQCT, KSXX sơ thẩm án hình sự./. 
Tác giả bài viết: Lê Đức Xuân
Nguồn tin: Tạp chí Kiểm sát
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Liên kết website

Truy cập

  • Đang truy cập: 16
  • Hôm nay: 1264
  • Tổng lượt truy cập: 2126216
Bình Phước giải quyết dứt điểm nhiều vụ án hình sự tồn đọng kéo dài