Những khó khăn, bất cập trong việc thực hiện quyền được xem biên bản phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Thứ năm - 17/09/2020 13:46
hình minh họa

hình minh họa

Tác giả tập trung làm rõ quyền được xem biên bản phiên tòa của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Qua đó, đưa ra một số giải pháp cụ thể để bảo đảm thực hiện tốt quyền được xem biên bản phiên tòa xét xử sơ thẩm trong vụ án hành chính.
  1. Quyền được xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận
Biên bản phiên tòa có giá trị vô cùng quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án hành chính, là cơ sở để các giai đoạn tố tụng sau như xét xử phúc thẩm; giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu có) để giải quyết vụ án một cách triệt để[1].
Tại khoản 1 Điều 166 Luật TTHC 2015 quy định: Biên bản phiên tòa gồm có các nội dung, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa; việc tiến hành xét xử công khai hay xử kín; tên địa chỉ của người tham gia tố tụng; nội dung của việc khởi kiện; họ tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên; mọi diễn biến phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thức phiên tòa; các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa; các nội dung khác phải được ghi vào biên bản phiên tòa theo quy định của Luật TTHC. Trong đó các nội dung khác cần được ghi vào biên bản phiên tòa như các vi phạm nội quy phiên tòa, các hình thức xử lý vi phạm, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, những người vắng mặt tại phiên tòa, kết luận của giám định viên…
Kiểm sát viên có quyền được xem biên bản phiên tòa[2]. Nếu phát hiện, thư ký ghi biên bản phiên tòa ghi những nội dung chưa đúng với quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì KSV có quyền yêu cầu thư ký ghi biên bản phiên tòa ghi sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận vào những phần ghi sửa đổi bổ sụng đó. Luật TTHC 2015 quy định như vậy là hết sức chặt chẽ và rõ ràng để loại bỏ trường hợp thư ký ghi biên bản phiên tòa cố tình ghi sai các nội dụng của phiên tòa từ đó dẫn đến việc ban hành bản án không khách quan, vô tư và không đúng quy định của pháp luật.
  1. Những khó khăn, bất cập khi thực hiện quyền được xem biên bản phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Thứ nhất, tại khoản 4 Điều 166 Luật TTHC quy định: “Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận”. Mặt khác, tại khoản 3 Điều 166 Luật TTHC quy định: “Sau khi kết thúc phiên tòa, HĐXX phải kiểm tra biên bản; Chủ tọa phiên tòa và Thư ký phiên tòa ký vào biên bản”. Sau khi kết thúc phiên tòa có thể được hiểu là từ thời điểm kết thúc phiên tòa cho đến một thời điểm chưa xác định được. Như vậy Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể viễn dẫn luật để kéo dài thời gian thực hiện quyền được xem biên bản phiên tòa của Kiểm sát viên. Mặc dù đã có thông tư liên tịch số 03/2016 ngày 31/8/2016 Giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao về quy định phối hợp giữa VKSNDTC và TANDTC trong việc thi hành một số quy định của Luật TTHC nhưng cũng chưa cụ thể mà chỉ quy định tại Điều 23: Sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp Kiểm sát viên có quyền được xem biên bản phiên tòa, phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản. Yêu cầu của Kiểm sát viên phải được thực hiện ngay và Kiểm sát viên ký xác nhận những nội dung sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 166 Luật TTHC.
Thứ hai: Luật TTHC năm 2015và thông tư liên tịch số 03 chưa có quy định: “Ngay sau khi thực hiện quyền được xem biên bản phiên tòa, Kiểm sát viên phải lập biên bản kiểm tra biên bản phiên tòa”.  Nên nhiều trường hợp Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm thì không ký vào biên bản phiên tòa được dẫn đến sau khi kiểm tra xong có sự thay đổi biên bản phiên tòa mà Kiểm sát viên không biết được.
Thứ ba:  Kiểm sát viên là người kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Ghi biên bản phiên tòa[3] là nhiệm vụ của Thư ký phiên tòa, Sau khi kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử phải kiểm tra biên bản phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Thư ký ký vào biên bản phiên tòa. Như vậy, Luật TTHC năm 2015 quy định: Kiểm sát viên có quyền được xem biên bản phiên tòa là không đúng với Hiến pháp năm 2013, không đúng với Luật tổ chức VKSND năm 2014 và không đúng khoản 3 Điều 25 Luật TTHC năm 2015 về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính. Khi được phân công kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính, Kiểm sát viên không những có quyền xem mà phải có quyền kiểm tra biên bản phiên tòa và xem xét việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính trong việc ghi biên bản phiên tòa và xem xét việc Hội đồng xét xử có thực hiện việc kiểm tra biên bản phiên tòa của Thư ký có thực hiện đúng diễn biên phiên tòa hay không. Như vậy, khoản 4 Điều 166 Luật TTHC năm 2015 chỉ quy định kiểm sát viên có quyền xem biên bản phiên tòa mà không quy định Kiểm sát viên có quyền kiểm tra biên bản phiên tòa là mâu thuẫn với chính Điều 25 Luật TTHC, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Hiến pháp năm 2013.
  1.  Giải pháp kiến nghị hoàn thiện để bảo đảm quyền được kiểm tra biên bản phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Thứ nhất: Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 4, Điều 166 Luật TTHC năm 2015 và Điều 23 Thông tư liên tịch số 03/2016 theo hướng:
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên có quyền kiểm tra biên bản phiên tòa, ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa. Yêu cầu của Kiểm sát viên phải được thực hiện ngay và Kiểm sát viên ký xác nhận những nội dung sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 166 Luật TTHC và lập biên bản kiểm tra biên bản phiên tòa để Thẩm phán chủ tọa ký vào biên bản kiểm tra”.
Thứ hai: Kiến nghị VKSNDTC ban hành biểu mẫu về biên bản kiểm tra biên bản phiên tòa để VKS địa phương thực hiện cho thống nhất.
Thứ ba: Thường xuyên thông báo rút kinh nghiệm trong việc thực hiện quyền được xem biên bản phiên tòa để Kiểm sát viện học tập và rút kinh nghiệm trong việc thực hiện quyền kiểm tra biên bản phiên tòa.
 

[1] Nguyễn Cảnh Hợp và các tác giả (2018), Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nxb. Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam, tr.286.
[2] Khoản 4 Điều 166 Luật TTHC năm 2015.
[3] Khoản 4 Điều 41 Luật TTHC năm 2015.

Tác giả bài viết: Nguyễn Toản
Nguồn tin: VKSND huyện Chơn Thành
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 7
  • Hôm nay: 2236
  • Tổng lượt truy cập: 4862758