MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC OAN SAI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Thứ sáu - 15/01/2016 03:11
Năm 2015 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 1335 vụ/2265 bị can. Viện kiểm sát thụ lý 1054 vụ/1906 bị can đã giải quyết 991 vụ/1785 bị can đạt 94,02%.
Kiểm sát xét xử sơ thẩm 1160 vụ/2116 bị cáo.
Kiểm sát xét xử theo thủ tục phúc thẩm 201 vụ/300 bị cáo.
Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp năm 2015 có những chuyển biến tích cực, chất lượng hồ sơ được đảm bảo, chủ động phát hiện các vi phạm trong hoạt động điều tra, xét xử để kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu khắc phục, sửa chữa, hạn chế oan, sai và bỏ lọt tội phạm; tỷ lệ bắt, giữ chuyển xử lý hình sự đạt tỷ lệ cao; án trả hồ sơ điều tra bổ sung thấp hơn chỉ tiêu chung; các vụ án khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng thẩm quyền, các tỷ lệ giải quyết án đều đạt và vượt chỉ tiêu; công tác chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm được chú trọng; duy trì các cuộc họp liên ngành được nâng cao và có chất lượng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự của Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Bình Phước cũng còn một số tồn tại, hạn chế như:
- Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vẫn còn thiếu sót trong việc đánh giá, thu thập chứng cứ nên vẫn để xảy ra việc phê chuẩn, khởi tố không đảm bảo căn cứ phải đình chỉ do hành vi không cấu thành tội phạm 03 vụ/03 bị canđó là các vụ án:Vụ án Trần Thị Búp bị khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” điều 140 Bộ luật hình sự; Vụ án Trần Văn Đề bị khởi tố về tội “không chấp hành án” theo điều 304 BLHS; Vụ Trần Văn Mến bị khởi tố về tội “Hiếp dâm trẻ em” và “Giao cấu với trẻ em” theo Điều 112, Điều 115 BLHS
Còn để xảy ra 01 vụ/01 bị cáo Tòa án tuyên không phạm tộiVụ đó là án vụ án Đồng Khắc Luật bị khởi tố về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điều 135 BLHS
Hủy án để điều tra xét xử lại 11 vụ/20 bị cáo chiếm tỷ lệ cao 5,5% các vụ án xét xử phúc thẩm chủ yếu là do do thu thập chứng cứ chưa đảm bảo, không thực hiện việc giám định, bỏ lọt tội phạm, khác tội danh, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng…
Trước thực trạng trên theo tôi do một số nguyên nhân sau đây:
Nguyên nhân chủ quan
- Do năng lực, trình độ của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn hạn chế chưa đáp ứng đòi hỏi đấu tranh phòng, chống tội phạm. Có những trường hợp kiểm sát viên chưa nắm vững các quy định pháp luật về hình sự và các quy định có liên quan dẫn đến việc phê chuẩn các quyết định không chính xác; không nắm vững các yếu tố cấu thành tội phạm, điển hình như vụ bà Trần Thị Búp bị khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Điều 140 BLHS.
- Ý thức trách nhiệm của một số Cán bộ, Kiểm sát viên chưa cao, chưa chịu khó nghiên cứu, còn chủ quan, không xem xét nghiên cứu toàn bộ vụ án chỉ quan tâm đến chứng cứ buộc tội, thỏa mãn với lời khai nhận tội của bị can, không xem xét đến các mâu thuẫn, chứng cứ gỡ tội, so sánh với các nguồn chứng cứ khác.
- Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra chưa làm hết trách nhiệm, có những vụ cần cương quyết không phê chuẩn mà phải xem xét xử lý bằng biện pháp khác, hoặc thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật khác như Vụ án Trần Văn Đề bị khởi tố về tội “Không chấp hành án”.
- Có những vụ theo quy định của pháp luật buộc phải có luật sư tham gia bào chữa, trưng cầu giám định tâm thần, giám định độ tuổi của bị can, người bị hại theo quy định của pháp luật là bắt buộc nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện như vụ: Hồ Văn Ngọc bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”; Vụ án Trần Văn Mến bị khởi tố về tội “Hiếp dâm trẻ em và giao cấu với trẻ em”.
- Kiểm sát viên không thực hiện đầy đủ các quy định của BLTTHS và quy chế ngành, chưa gắn công tố với hoạt động điều tra, kiểm sát chưa chặt chẽ hoạt động của Điều tra viên nên việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, kê biên, định giá… còn sơ sài, thiếu khách quan kiểm sát viên không phát hiện để đề ra yêu cầu điều tra kịp thời, nhằm khắc phục những vấn đề truy tố, xét xử sau đó bị hủy án để điều tra, truy tố, xét xử lại.
- Lãnh đạo một số đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện cũng chưa làm hết trách nhiệm, thiếu kiểm tra, đối chiếu nghiên cứu hồ sơ vụ án, nghe báo cáo nhưng không kỹ, không sâu, thiếu thận trọng trong việc đánh giá chứng cứ, xem xét tội danh dẫn đến sai sót phải đình chỉ vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hoặc hủy án điều tra, truy tố, xét xử lại.
- Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhiều khi chưa chặt chẽ, nhất là các vụ án phức tạp.Kiểm sát viên chưa chủ động nắm tiến độ điều tra. Viện kiểm sát cấp dưới chưa chủ động thỉnh thị, tranh thủ ý kiến của các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát tỉnh đối với những vụ phức tạp trước lúc phê chuẩn hoặc truy tố dẫn đến oan, sai.
Nguyên nhân khách quan
- Tính chất thủ đoạn tội phạm ngày một tinh vi, nhiều bị can tham gia, xảy ra trên nhiều địa bàn gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm. Một số đối tượng lợi dụng mối quan hệ tranh chấp dân sự để thực hiện việc gian dối, chiếm đoạt tài sản, việc định giá tài sản, giám định tư pháp chưa đồng bộ, thiếu kịp thời.
- Quy định pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự có những vấn đề còn bất cập so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm chưa được sửa đổi bổ sung kịp thời, công tác hướng dẫn, giải thích luật thực hiện chưa thường xuyên và đồng bộ dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.
- Lực lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn thiếu, có một số còn thiếu kinh nghiệm thực tiển, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, trang thiết bị phục vụ công tác còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu.
Để khắc phục oan, sai trong tố tụng hình sự theo tôi cần có những giải pháp sau:
Nâng cao ý thức trách nhiệm, thái độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho Kiểm sát viên.
Quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về công tác tư pháp, các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội và tranh tụng trong xét xử; chấp hành nghiêm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự.
Nắm vững và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Phải nhận thức đầy đủ, thống nhất về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân được quy định trong Hiến Pháp, Luật tổ chức Viện KSND năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự, Quy chế của ngành… Nắm vững và thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong thực hiện công tác.
Giáo dục ý thức trách nhiệm, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện phẩm chất đạo đức theo lời dạy của Bác Hồ “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”; xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi nghiệp vụ, tinh thông pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”.
Xây dựng đội ngũ cán bộ vững về chuyên môn, có những chuyên gia giỏi theo từng lĩnh vực, bố trí phân công công việc phù hợp, những Kiểm sát viên giỏi có kinh nghiệm để giải quyết những vụ việc phức tạp.
Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra
Quá trình điều tra, lập hồ sơ vụ án phải tuân thủ pháp luật, thu thập, đánh giá đầy đủ, khách quan các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội để xác định đúng sự thật vụ án; khắc phục việc làm oan người vô tội do hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế; chấn chỉnh việc đình chỉ điều tra không đúng pháp luật để tránh oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia các vụ án theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát các cấp thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố gắn với hoạt động điều tra và kiểm sát hoạt động tư pháp; phối hợp chặt chẽ, kịp thời với các cơ quan có thẩm quyền điều tra trong xử lý tội phạm; bảo đảm việc khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra oan, sai; khắc phục tình trạng buông lỏng trách nhiệm, thống nhất một chiều với Cơ quan điều tra trong phân loại, xử lý vụ án; chấn chỉnh việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án không đúng pháp luật; tăng cường trách nhiệm công tố, tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự; kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là đơn kêu oan, đơn tố cáo bức cung, dùng nhục hình.
Kiểm sát viên được phân công phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, tài liệu, kiểm sát chặt chẽ từ khi kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, xem xét việc phê chuẩn và chủ động đề ra yêu cầu điều tra. Phải bám sát tiến độ điều tra, đề ra yêu cầu điều tra nhằm khắc phục kịp thời những thiếu sót về chứng cứ hoặc vi phạm tố tụng. Phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra, đánh giá xem xét các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và thủ tục tố tụng của vụ án. Khi cần thiết tự mình hoặc phối hợp với Cơ quan điều tra hỏi cung để đánh giá đầy đủ tính chất mức độ phạm tội của từng bị can trong vụ án. Kịp thời lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi liên quan, xem xét dấu vết hiện trường vụ án, vật chứng có phù hợp với thực tế khách quan.
Trước khi kết thúc điều tra Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Điều tra viên đánh giá lại toàn bộ chứng cứ và thủ tục tố tụng, phát hiện những sai sót để bổ sung, hoàn chỉnh.
Sau khi kết thúc điều tra Kiểm sát viên tiếp tục nghiên cứu hồ sơ phát hiện kịp thời những mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án, thực hiện việc phúc cung tổng hợp đối với từng bị can, nhất là các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, bị can kêu oan, không nhận tội, phản cung hoặc có mâu thuẫn giữa chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án từ đó đề xuất hướng xử lý vụ án, bị can có căn cứ thận trọng.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa nắm vững hồ sơ vụ án, những tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phải linh hoạt, nhạy bén, đánh giá các tình tiết khách quan, toàn diện để có quan điểm phù hợp pháp luật, tránh tình trạng cấp trên hủy án do việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, bỏ lọt tội phạm, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc khác tội danh.
Tăng cường công tác phối hợp liên ngành
Thực hiện nghiêm túc các quy định của BLTTHS; Thông tư: 05/2005/TTLT VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003; Quy chế phối hợp đã ký kết giữa CQĐT-VKS-TA đảm bảo nguyên tắc phối kết hợp và chế ước trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ của các ngành theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án có khó khăn, vướng mắc về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, phương hướng điều tra tiếp, đường lối xử lý hoặc sự nhận thức khác nhau vế áp dụng văn bản quy phạm pháp luật thì Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cần kịp thời báo cáo xin ý kiến của Lãnh đạo liên ngành tố tụng cùng cấp để thống nhất giải quyết. Trường hợp không thống nhất được thì xin ý kiến chỉ đạo liên ngành tố tụng cấp trên.
 Tăng cường Công tác chỉ đạo, điều hành
Lãnh đạo đơn vị phải sâu sát, chỉ đạo kịp thời nhất là những vụ án phức tạp, tùy theo tính chất của từng vụ án để phân công Kiểm sát viên cho phù hợp, tăng cường công tác kiểm tra phát hiện sai sót để chấn chỉnh kịp thời.
Đề cao trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể đối với các vụ việc oan, sai. Xử lý nghiêm minh đối với người mắc sai phạm, nhất là đối với trường hợp xảy ra oan, sai nghiêm trọng. Đơn vị để xảy ra oan, sai thì thủ trưởng đơn vị đó chịu trách nhiệm; kiên quyết không xét các danh hiệu thi đua đối với cá nhân, đơn vị có án oan.
Xác định cụ thể một số loại án phức tạp, dấu hiệu cấu thành không rõ ràng, dễ tranh chấp tội danh quy định phải báo cáo lãnh đạo và phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh trước khi quyết định phê chuẫn.
Các Cơ quan tố tụng cấp trên thường xuyên kiểm tra, uốn nắn chấn chỉnh kịp thời, tăng cường việc hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho cấp dưới.
Kiện toàn bổ sung số lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Xây dựng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên” đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới. Điều chuyển biên chế phù hợp cho các địa phương xảy ra nhiều án, tránh áp lực quá nhiều công việc dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
Có chính sách đãi ngộ, tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho các Cơ quan tư pháp.
Đề nghị Các cơ quan Trung ương sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật, văn bản hướng dẫn kịp thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức pháp luật cho nhân dân. Thường xuyên mở các lớp tập huấn, đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác pháp luật.
Trên đây là thực trạng những vụ án oan, sai trong tố tụng hình sự xảy ra trên địa bàn tỉnh trong năm 2015. Một số nguyên nhân, đề ra một số giải pháp để các đơn vị cùng rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, công tác Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự trong thời gian tới, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới./.
Tác giả bài viết: Nguyễn Mậu Hưng -P7 VKSND tỉnh
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Liên kết website

Truy cập

  • Đang truy cập: 24
  • Hôm nay: 2308
  • Tổng lượt truy cập: 2133015
Bình Phước giải quyết dứt điểm nhiều vụ án hình sự tồn đọng kéo dài