MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KSV TRONG VIỆC TỔ CHỨC CÁC PHIÊN TÒA RÚT KINH NGHIỆM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Thứ năm - 27/11/2014 21:57
Trong năm, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phối hợp tổ chức xét xử nhiều vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp “Phiên tòa rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng THQCT của Kiểm sát viên”.
      Hầu hết các vụ án mà kiểm sát viên chọn làm phiên tòa rút kinh nghiệm đều có tính chất phức tạp, có sự tham gia của Luật sư, người bào chữa. Thông qua việc tổ chức các phiên tòa này đã giúp các Thẩm phán, Kiểm sát viên tích lũy thêm kinh nghiệm thực tiễn, đảm bảo các phiên tòa đều được diễn ra khách quan và đúng quy định của pháp luật, nâng cao kỹ năng tranh luận, thẩm vấn của Kiểm sát viên. Tất cả các phán quyết của Tòa án chủ yếu căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ, ý kiến của KSV, Luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
          Đối với Kiểm sát viên, do có sự chuẩn bị tốt từ dự thảo luận tội, đề cương xét hỏi, nhất là đã phối hợp tốt với Tòa án về việc dự kiến các tình huống tranh tụng và các tình huống khác có thể xẩy ra tại phiên tòa. Do đó các vụ án đưa ra xét xử làm phiên tòa rút kinh nghiệm, đảm bảo 100% số vụ bảo vệ được Cáo trạng, không có vụ án nào Viện kiểm sát truy tố mà Tòa án tuyên không phạm tội hoặc phải hoãn phiên tòa để trả hồ sơ  điều tra bổ sung do thiếu chứng cứ hoặc vi phạm thủ tục tố tụng.
          Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số phiên tòa chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết 49 của Bộ chính trị. Cụ thể:
         - Trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà: Kiểm sát viên chưa chú ý nhiều đến việc giải quyết các yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên toà khi có người vắng mặt được quy định tại Điều 205 BLTTHS nên nhiều Kiểm sát viên không có quan điểm hoặc lúng túng khi đánh giá các ý kiến đưa ra của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác về những vấn đề liên quan trong phần thủ tục phiên toà.
       - Trong phần xét hỏi tại phiên toà : Qua theo dõi các phiên tòa thì đây là một trong những phần mà Thẩm phán và Kiểm sát viên còn bộc lộ nhiều hạn chế như Thẩm phán hỏi quá nhiều một vấn đề, làm thay Kiểm sát viên như đấu tranh với bị cáo trong trường hợp bị cáo không nhận tội. Nhiều khi còn hỏi lan man dài dòng, không đúng trọng tâm, vừa hỏi vừa kết tội luôn bị cáo. Ngược lại Kiểm sát viên thiếu chủ động trong việc xét hỏi. Kiểm sát viên vẫn rất coi nhẹ hoạt động chuẩn bị đề cương xét hỏi. Hoặc tình trạng những câu hỏi của Kiểm sát viên đưa ra không làm rõ được nội dung cáo trạng, không phục vụ cho việc luận tội cũng như những vấn đề dự kiến sẽ phải tranh luận. Những câu hỏi còn thiếu mục đích, dài dòng, khó hiểu làm bị cáo hoặc bị hại, nhân chứng phải đề nghị giải thích lại vẫn diễn ra, nhiều câu hỏi còn mang tính chủ quan, mang tính kết luận.
        - Trong phần trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên : Một số lời luận tội, lời phát biểu của Kiểm sát viên chưa thực sự là kết quả của phần xét hỏi và điều tra công khai tại phiên toà, vẫn dựa chủ yếu vào luận tội viết sẵn rồi điều chỉnh theo diễn biến phiên toà.
        - Trong phần tranh luận và đối đáp: Đây là phần trọng tâm của tranh tụng và nó cũng là điểm hạn chế của phần lớn các Kiểm sát viên: không dự kiến những vấn đề phải tranh luận, khi có Luật sư tham gia đưa ra những vấn đề phản bác, thường mất thế chủ động, nhất là khi Luật sư có kỹ năng bào chữa giỏi. Nhiều Kiểm sát viên còn không đối đáp các vấn đề thuộc về lý luận chung với Luật sư  hoặc đối đáp sai những vấn đề rất cơ bản trong phần chung và phần tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự. Điều này thể hiện lý luận về cấu thành tội phạm còn chưa thực sự được chú trọng. Hoặc do chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ nên nhiều vấn đề Luật sư đưa ra Kiểm sát viên không biết họ nói có đúng hay không từ đó dẫn tới việc không tranh luận.
          Nhiều Kiểm sát viên có khả năng diễn đạt, trình bày và phản ứng linh hoạt với những vấn đề Luật sư đưa ra, đó chính là trình độ, hiểu biết của mỗi Kiểm sát viên biết chịu khó rèn luyện, nghiên cứu, học hỏi tìm tòi thì sẽ đạt được kết quả. Tuy nhiên, không ít các Kiểm sát vẫn còn e ngại, không mạnh dạn chọn phiên toà có bị cáo không nhận tội hoặc có Luật sư tham gia bào chữa. Hoặc tình trạng Kiểm sát viên khi tranh tụng  chỉ thấy quyền của Kiểm sát viên là được tranh tụng mà chưa thấy nghĩa vụ của Kiểm sát viên là phải tranh luận, vẫn còn tình trạng chủ quan đối với những vụ án không có Luật sư, chưa quan tâm tranh luận đối đáp với những người tham gia tố tụng khác.
     Việc tổ chức đối với các phiên tòa rút kinh nghiệm còn nhiều hạn chế như trên cho thấy có nhiều nguyên nhân (cả chủ quan và khách quan). Tuy nhiên xuất phát từ những tồn tại và nguyên nhân thực tế theo quan điểm của chúng tôi thấy để làm tốt công tác xét xử nói chung và công tác thực hành quyền công tố của kiểm sát viên nói riêng chúng ta cần phải đưa ra một số giải pháp sau:
     1. Công tác tổ chức và quản lý chỉ đạo điều hành
     - Trong công tác chỉ đạo, điều hành, lãnh đạo hai ngành cần quan tâm ngay từ việc chọn và phân công Thẩm phán, Kiểm sát viên tham gia giải quyết vụ án ngay từ đầu.
     - Cần quan tâm đến công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng mà đặc biệt là Tòa án như đối với một số vụ phức tạp, khó khăn trong việc đánh giá chứng cứ hoặc khác quan điểm về tội danh…Lãnh đạo hai ngành cần chỉ đạo Thẩm phán, Kiểm sát viên làm tốt công tác chuẩn bị xét xử. Đối với Kiểm sát viên cần chỉ đạo chuẩn bị tốt dự thảo luận tội, đề cương xét hỏi nhất là dự kiến tình huống. Đây là công tác chuẩn bị quan trọng nhất vì trong thực tế cho thấy dù công tác chuẩn bị có tốt đến đâu nhưng Thẩm phán và Kiểm sát viên không dự liệu được các tình huống có thể xẩy ra tại phiên tòa thì phiên tòa cũng khó hoàn thành tốt được. Đồng thời Lãnh đạo phải kiểm tra, duyệt lại việc chuẩn bị dự thảo luận tội, đề cương xét hỏi nhất là dự kiến tình huống.
     - Cần quan tâm đến sự chỉ đạo thống nhất giữa cấp trên với cấp dưới, đối với các vụ án phức tạp đang giải quyết ở giai đoạn sơ thẩm, cấp phúc thẩm cần quan tâm chỉ đạo ngay từ giai đoạn sơ thẩm với các hình thức như tham dự các cuộc họp do cấp sơ thẩm mời hoặc cấp sơ thẩm chủ động thông báo với cấp trên lịch xét xử để cấp trên  nắm bắt lịch xét xử của cấp sơ thẩm để chủ động tham dự phiên tòa nhằm thâm nhập vụ án ngay từ đầu để hạn chế những tồn tại của cấp sơ thẩm (nếu có) cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc dự kiến các tình huống có thể diễn ra tại phiên tòa phúc thẩm. Đây là một trong những giải pháp đang rất quan tâm trong quá trình chỉ đạo cũng như giải quyết những vụ án phức tạp nói chung và các vụ án tổ chức rút kinh nghiệm nói riêng.
     - Ngoài ra Lãnh đạo hai ngành cần quan tâm đến công tác rút kinh nghiệm sau phiên tòa. Đối với Kiểm sát viên thông qua các thông báo rút kinh nghiệm của Viện KSND tối cao để tham mưu cho Lãnh đạo trong công tác đánh giá chứng cứ về công tác thực hành quyền công tố. Hoặc có điều kiện hai ngành cùng nhau tổ chức rút kinh nghiệm từng vụ án cụ thể. Còn nếu không có điều kiện thì hàng năm hai ngành Tòa án và Viện kiểm sát nên tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm về công tác xét xử và Hội nghị này nên mời ngành cấp trên tham dự.
     2.  Nâng cao trình độ cho Thẩm phán và Kiểm sát viên
Một phiên tòa có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự điều khiển phiên tòa của Thẩm phán chủ tọa. Để có kỹ năng điều khiển phiên tòa tốt Thẩm phán, Kiểm sát viên luôn phải trau dồi các vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ và không ngừng tiếp thu, tích lũy kinh nghiệm. Muốn vậy theo chúng tôi nên đổi mới nội dung đào tạo, chú trọng việc đào tạo về thực tiễn như tập trung đào tạo về kỹ năng điều khiển phiên tòa (đối với Thẩm phán) và kỹ năng THQCT     (đối với Kiểm sát viên) như việc tổ chức Thi đánh giá kỹ năng của Kiểm sát viên thông qua phiên tòa giả định, nhất là tập chung rèn kỹ năng xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa cho Thẩm phán và Kiểm sát viên.
 3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp
- Thứ nhất : cần phải quy định trong BLTTHS tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử : Hiện nay đã có nhiều quy định về tranh tụng nằm ở một số điều trong BLTTHS, như các điều 5,11,19,50,51,52,53,54,58… nhưng chưa được ghi nhận với tính chất như một nguyên tắc cơ bản, độc lập của Bộ luật TTHS. Do đó, để nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa hình sự, một yêu cầu trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới ở nước ta như các Nghị quyết 08-NQ/TW, số 48-NQ/TW và số 49-NQ/TW đã nêu và làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định cụ thể vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, cần phải đưa vấn đề tranh tụng lên thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử.
- Thứ hai: cần sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về vấn đề tranh tụng, cụ thể :
Điều 10 của BLTTHS quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án, trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội hay không có tội tại phiên tòa đó là của Hội đồng xét xử. Do vậy, hiện nay tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng tiến hành một số hoạt động tố tụng để chứng minh tội phạm. Ví dụ: Hội đồng xét xử sẽ nhắc hoặc công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra nếu lời khai của họ tại phiên tòa có mâu thuẫn với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không khai, vắng mặt hoặc đã chết (Điều 208). Như vậy, phải chăng Tòa án cũng là một cơ quan có chức năng buộc tội ? Do việc quy định không rõ ràng về trách nhiệm chứng minh tội phạm của các chủ thể tại phiên tòa nên có quan điểm cho rằng tố tụng hình sự Việt Nam thuộc hệ tố tụng xét hỏi, các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đều là các tầng nấc liên tiếp khác nhau của quá trình buộc tội. Để Tòa án đúng là “cơ quan xét xử, cầm cân nảy mực” và đảm bảo cho việc tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dân chủ, bình đẳng, khách quan thì cần phải xác định rõ vai trò của Hội đồng xét xử tại phiên  tòa là người trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa để phán quyết về vụ án.
Mặt khác, do BLTTHS chưa quy định tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nên các quy định của Bộ luật chưa cụ thể hóa đầy đủ tính chất tranh tụng tại phiên tòa. Một số quy định của BLTTHS đặt gánh nặng trách nhiệm chứng minh tội phạm lên vai Hội đồng xét xử (ví dụ Điều 207 quy định : “khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa …”). Vì vậy, chính các chủ thể tham gia tranh tụng (Kiểm sát viên, Luật sư …) cũng chưa ý thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong tranh tụng. Việc xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn của quá trình tranh tụng tại phiên tòa, cho nên cần phải để các bên tranh tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh (VKS, người bào chữa…) tiến hành xét hỏi là chủ yếu, còn Hội đồng xét xử thực hiện việc giám sát, duy trì trình tự xét hỏi và có quyền tham gia vào quá trình xét hỏi ở bất kỳ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án chưa được các bên làm rõ trong quá trình xét hỏi. BLTTHS cần xác định rõ tại phiên tòa vai trò của Hội đồng xét xử chỉ là người “trọng tài” giữa bên buộc tội và bào chữa để ra phán quyết về vụ án, còn việc xét hỏi theo hướng buộc tội là trách nhiệm của Kiểm sát viên, việc xét hỏi gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là trách nhiệm của người bào chữa. Vì vậy, đề nghị sửa đổi các quy định về xét hỏi theo hướng : khi xét hỏi, Kiểm sát viên hỏi trước, sau đó đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, các thành viên Hội đồng xét xử có thể hỏi bất kỳ ở thời điểm nào nếu xét thấy cần thiết nhằm làm sáng tỏ các tình tiết về vụ án hoặc mang tính chất nêu vấn đề để các bên tập trung xét hỏi làm rõ, còn việc hỏi để buộc tội và gỡ tội dành cho Kiểm sát viên và người bào chữa.
Thực tiễn cho thấy trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nhiều khi những câu hỏi, đáp của các bên tranh tụng không đi thẳng vào vấn đề, không giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn, khúc mắc còn tồn tại nên cần có những quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa về quyền và nghĩa vụ của Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình tranh tụng, thúc đẩy sự chủ động tranh tụng của Kiểm sát viên và Luật sư. Để tạo ra một cơ chế  thực sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội, những quy định này phải được quy định trong BLTTHS.
BLTTHS không quy định bắt buộc tất cả các vụ án hình sự đều phải có sự tham gia của người bào chữa nên trong thực tiễn phần lớn các vụ án hình sự không có người bào chữa tham gia. Các điều 49, 50 của Bộ luật không quy định quyền thu thập chứng cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không có người bào chữa. Để bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình và đảm bảo việc chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng được khách quan, toàn diện, cần bổ sung quyền thu thập chứng cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không thể thu thập được thì có thể yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ. Cũng cần bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của bị can, bị cáo, nếu chứng cứ đó có lợi cho họ trong việc bào chữa.
Ngoài ra, trong thực tiễn xét xử có trường hợp bị cáo tự bào chữa cho rằng hành vi phạm tội của mình là oan hoặc không nhận tội, thì thường bị coi là có thái độ không thành khẩn khai báo và nhiều trường hợp đã được nhận định trong bản án để đánh giá nhân thân của bị cáo…Để thực sự đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa trong BLTTHS cần quy định: “Bị cáo có quyền sử dụng những biện pháp và cách thức mà pháp luật không cấm để bào chữa trước tòa, không bị coi là những tình tiết đánh giá về nhân thân cũng như về ý thức của họ.
Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự là xét xử, có ý nghĩa là vai trò Tòa án là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa để giải quyết vụ án. Bởi vậy, Tòa án chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý thuộc về chức năng xét xử. Khởi tố vụ án hình sự tuy chưa phải là buộc tội đối với một người cụ thể nhưng đó là nhiệm vụ thuộc về chức năng buộc tội. Điều 13, Điều 104 của BLTTHS quy định Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự là chưa phù hợp. Nếu nhằm mục đích không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm thì chỉ nên quy định Tòa án được quyền yêu cầu VKS khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới là đủ.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tranh tụng tại các phiên tòa hình sự, theo chúng tôi cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau, đó là: các giải pháp pháp lý; các giải pháp về tổ chức; các giải pháp về con người, các giải pháp vật chất – kỹ thuật và có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng phù hợp với hoạt động đặc thù của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…Các giải pháp này liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, giải pháp này là tiền đề và điều kiện để tiến hành các giải pháp kia và ngược lại.
Các giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS hiện hành liên quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa quan trọng, góp phần thiết thực vào quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật; giải quyết các vấn đề vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự và cải cách hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự.
Tác giả bài viết: Lê Văn Quang
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Liên kết website

Truy cập

  • Đang truy cập: 33
  • Hôm nay: 1110
  • Tổng lượt truy cập: 2218454