Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác giải quyết án hình sự về hạn chế án trả hồ sơ điều tra bổ sung

Thứ sáu - 15/01/2016 03:01
* Thực trạng:
Bộ luật tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA ngày 27/8/2010 (gọi tắt là TTLT 01) của viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung qui định các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung. Nhưng trên thực tế cách hiểu và vận dụng pháp luật trong vấn đề trả hồ điều tra bổ sung theo Điều 168 BLTTHS là rất khác nhau.
Trường hợp trả hồ sơ khi nhận thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với những vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được. Quy định này dễ cho chúng ta nhận thức trong vụ án có những chứng cứ quan trọng, có những chứng cứ không quan trọng, hoặc có những chứng cứ quan trọng hơn, chứng cứ ít quan trọng. Theo quy định tại TTLT 01 thì chứng cứ quan trọng đối với vị án là chứng cứ mà “thiếu chức cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan toàn diện, đúng pháp luật”. Tuy nhiên, quy trình áp dụng còn nhiều các hiều khác nhau.
Nhiều hồ sơ bị trả lại do còn thiếu những tài liệu phản ánh về tình trạng tài sản của bị can nên không thể quyết định hình phạt được (trong trường hợp bị can bị truy tố về tội phạm mà khung hình phạt có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính). Lý do cơ bản của hiện tượng này  là do những thay đổi của Bộ luật hình sự năm 1999 về hình phạt tiền so với quy định  trong bộ luật hình sự năm 1985, khi quyết hình phạt tiền không cần quyết định đến tình trạng tài sản của người bị kết án. Do vậy trong thực tiễn có những bản án phạt tiền không thi hành được, nhiều trường hợp phạt tiền chỉ được tuyên cho có, không có tính khả thi. Có cơ quan cho rằng cần phải xác minh tình trạng tài sản, có cơ quan cho rằng đây không phải là chứng cứ quan trọng để quyết định việc truy tố hay không có tội, tội phạm gì và theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự.
Trong những năm qua tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở Bù Đăng là khá nhiều. Đặc biệt còn để xảy ra tình trạng án trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần, có vụ án trả 02 lần thậm chí 03 lần, vi phạm nghiêm trọng Luật tố tụng hình sự.  Đáng lưu ý là nhiều vụ Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận, thể hiện quan điểm nhận thức có khác nhau.
Theo số liệu tổng kết tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung từ năm 2013 đến năm 2015 tại Bù Đăng như sau:
* Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung:
- Năm 2013: 0 vụ.
- Năm 2014: 02 vụ (trả để nhập vụ án).
- Năm 2015: 04 vụ .
* Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung:
- Năm 2013: 06 vụ, VKS chấp nhận 04 vụ đạt tỷ lệ 2,6%.
- Năm 2014: 08 vụ, VKS chấp nhận 05 vụ đạt tỷ lệ 3,6%.
- Năm 2015: 11 vụ, Viện kiểm sát chấp nhận 03 vụ đạt tỷ lệ 2,2%
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung giữa các ngành tố tụng thì có nhiều, song chủ yếu tập trung ở những nguyên nhân chính sau đây:
         Về nguyên nhân chủ quan:
          - Nhận thức pháp luật, quan điểm đánh giá chứng cứ, hành vi phạm tội và đánh giá về vụ án ở mỗi Cơ quan tiến hành tố tụng, giữa những người tiến hành tố tụng còn khác nhau, thiếu sự thống nhất.
        - Trong quá trình kiểm sát điều tra, một số Kiểm sát viên (KSV) được phân công chưa bám sát quá trình điều tra, chưa chủ động nghiên cứu hồ sơ vụ án để nắm rõ nội dung, tiến trình giải quyết cũng như các chứng cứ mới phát sinh; mối quan hệ phối hợp giữa KSV và Điều tra viên chưa thật tốt …KSV chưa kịp thời đặt ra yêu cầu điều tra cụ thể, có chất lượng hoặc đã đề ra yêu cầu điều tra nhưng không thường xuyên theo dõi, bám sát, đôn đốc ĐTV thực hiện dẫn đến phải trả điều tra bổ sung.
        -  Kỹ năng của một số KSV, ĐTV, Thẩm phán trong việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ còn hạn chế, nhất đối với một số vụ án phức tạp, liên quan đến xác định tội danh. Việc phân công KSV của Lãnh đạo các đơn vị chưa bám sát đúng năng lực, sở trường của từng cá nhân KSV nên dẫn đến hiệu quả còn hạn chế. Một số vụ án có khó khăn, vướng mắc trong mối quan hệ phối hợp, việc định tội danh hoặc trái quan điểm giữa KSV, ĐTV, Thẩm phán chưa được báo cáo kịp thời để Lãnh đạo các đơn vị có ý kiến chỉ đạo giải quyết.
        - Việc nghiên cứu hồ sơ trong quá trình kiểm sát điều tra cũng như sau khi CQĐT kết thúc, đề nghị truy tố của một số KSV còn chưa sâu, chưa nắm rõ toàn bộ tình tiết của vụ án, chưa phát hiện được những vi phạm về thủ tục tố tụng,  mâu thuẫn về lời khai giữa các bị can, người bị hại, tài liệu giám định …dẫn đến việc đề xuất giải quyết chưa chính xác, khi qua Toà án mới phát hiện phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
         - Mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT, VKS và Toà án trong một số vụ án cụ thể còn chưa thật tốt, ... Một số trường hợp do thiếu chứng cứ không phải quan trọng, không ảnh hưởng đến việc giải quyết đối với vụ án hoặc trong khi nghiên cứu không kỹ nên có những vấn đề đã được đề cập trong quá trình điều tra nhưng Thẩm phán vẫn nêu trong Quyết định trả điều tra bổ sung hoặc Thẩm phán thụ lý đã ra Quyết định trả hồ sơ mà không trao đổi, bàn bạc trước với KSV để bổ sung.
            Về nguyên nhân khách quan:
            - Bộ luật Hình sự, BL TTHS có hiệu lực từ lâu nhưng việc hướng dẫn của cơ quan cấp trên có thẩm quyền còn chậm hoặc chưa hướng dẫn, dẫn đến việc nhận định, đánh giá chứng cứ khác nhau giữa ĐTV, KSV, Thẩm phán.
            Ví dụ: Các tội danh thuộc chương tội phạm về Kinh tế - Chức vụ đến nay vẫn chưa có văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể như thế nào là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng ...đây là một trong những vướng mắc trong thực tế khi xem xét giải quyết những vụ án thuộc nhóm tội này. 
         - BL TTHS và Thông tư liên tịch 01 đều chưa quy định và hướng dẫn trường hợp vụ án đã được chuyển đến Tòa án hoặc Cơ quan điều tra (CQĐT) kết thúc điều tra chuyển Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp truy tố nhưng có bị can trốn, bị bắt theo Quyết định truy nã nhưng không thể tách vụ án, bị can để xử lý riêng do việc tách đó làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án (Quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BL TTHS và Luật Thi hành án hình sự về truy nã). Thực tế các vụ này đều phải trả hồ sơ điều tra bổ sung để nhập bị can, bị cáo bị bắt để xử lý chung trong cùng vụ án.
          - Một số vụ án sau khi CQĐT kết thúc điều tra hoặc VKS đã có Cáo trạng truy tố thì bị can trong vụ án bỏ trốn ra đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã nên phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung để nhập vụ án nhằm đảm bảo vụ án được xử lý triệt để, toàn diện.
* Những giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng:
          - Cần tăng cường trách nhiệm của KSV trong giai đoạn kiểm sát điều tra và bám sát yêu cầu điều tra. Đối với những vụ án phức tạp, KSV cần trực tiếp cùng ĐTV hỏi cung, lấy lời khai của những người tham gia tố tụng. Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, thủ tục tố tụng, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện. Ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, VKS phải phân công KSV kiểm sát chặt chẽ việc kiểm tra, xác minh của CQĐT, đảm bảo việc phê chuẩn các Quyết định khởi tố bị can, khám xét, bắt khẩn cấp.. phải có đủ căn cứ. Trước khi ĐTV dự thảo Kết luận điều tra vụ án, KSV phải phối hợp với ĐTV và phải nghiên cứu toàn diện vụ án, có ý kiến trao đổi với ĐTV và báo cáo Lãnh đạo của ngành mình để có ý kiến chỉ đạo.
        - Làm tốt công tác chuẩn bị tham gia xét xử và tại phiên toà, trước khi xét xử, KSV dự kiến mức án, căn cứ pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho từng bị cáo và báo cáo Lãnh đạo viện (hoặc Uỷ ban kiểm sát). Trong công tác xét xử, KSV phải chuẩn bị kỹ hồ sơ, kế hoạch tham gia xét hỏi, tranh luận và bản luận tội phải có căn cứ, thuyết phục cao. Chủ động thẩm vấn, tranh luận nhằm bảo đảm những nội dung theo Cáo trạng đã truy tố.
        - Trong quá trình nghiên cứu án, nếu còn có những vấn đề chưa rõ hoặc có những nhận định, đánh giá chứng cứ khác nhau, KSV cần trao đổi với ĐTV để tìm biện pháp giải quyết. Nếu không thống nhất phải kịp thời báo cáo cho Lãnh đạo từng ngành để phối hợp chỉ đạo.
        - Đối với những vụ án phức tạp, chuyên án hoặc những vụ án được dư luận quan tâm, Lãnh đạo đơn vị cần, phân công những KSV có năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm thực tế để đảm nhận những vụ việc này...hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội, việc lúng túng trong thao tác nghiệp vụ cũng như phương pháp giải quyết một số vấn đề cụ thể phát sinh nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật chính xác, giải quyết triệt để đối với vụ án.
           Thực hiện nghiêm túc các giải pháp nêu trên tôi tin rằng trong thời gian tới sẽ hạn chế được tỉ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn huyện nhà, góp phần tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm theo tinh thần Chỉ thị 06 ngày 06-12-2013 của Viện trưởng Viện KSND tối cao đã đề ra.
Tác giả bài viết: Trương Thanh Tuấn
Nguồn tin: VKSND huyện Bù Đăng
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Liên kết website

Truy cập

  • Đang truy cập: 22
  • Hôm nay: 1445
  • Tổng lượt truy cập: 2289653