MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRANH TỤNG CỦA KSV TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ.

Thứ tư - 13/01/2016 21:08
     Tranh tụng tại phiên tòa hình sự là một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là yêu cầu đảm bảo tính công bằng dân chủ giữa người tham gia tố tụng với Viện kiểm sát, là căn cứ để xác định sự thật vụ án và là cơ sở để Hội đồng xét xử ra bản án đúng đắn, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xác định tầm quan trọng của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, tại các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp như  Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/01/2002, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận 79-KL/TW ngày 28/7/2010 v.v… đã xác định tầm quan trọng của tranh tụng trong xét xử, coi nội dung này là một trong những nội dung trọng tâm của cải cách tư pháp, là khâu đột phá của cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tranh tụng đã được thể chế hóa ở Hiến pháp 2013. Tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp quy định“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.Như vậy, lần đầu tiên, việc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được ghi nhận thành một nguyên tắc, thể hiện bước tiến lớn trong hoạt động xây dựng pháp luật và phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nhà nước ta.  
     Trong phiên toà xét xử các vụ án hình sự: KSV là chủ thể chính của tranh tụng. Tranh tụng vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của KSV. Việc KSV tranh tụng trước hết nhằm mục đích bảo vệ tính đúng đắn, khách quan, tính hợp pháp và có căn cứ của quan điểm truy tố (thể hiện trong bản cáo trạng). Nói cách khác, xuất phát điểm của tranh tụng của KSV với những người tham gia tố tụng khác là nhằm bảo vệ tính có căn cứ, hợp pháp của quan điểm truy tố. Tuy nhiên thông qua tranh tụng, KSV có thể phát hiện ra những nội dung bất hợp lý, thiếu căn cứ hoặc không phù hợp pháp luật của quan điểm truy tố. Nếu đủ cơ sở, KSV sẽ xử lý các tình huống phát sinh nói trên theo qui định của pháp luật TTHS; cụ thể như : Có thể đề nghị HĐXX trả hồ sơ để điều tra bổ sung; rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; chuyển tội danh nhẹ hơn hoặc thay đổi khung khoản truy tố phù hợp với thẩm quyền xét xử của HĐXX (ở cấp sơ thẩm); hoặc đề nghị huỷ án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại hoặc để đình chỉ tố tụng (ở cấp phúc thẩm).
Theo số liệu thống kê trong năm 2015 tại Bù Đăng cho thấy: Tổng số vụ án mà Toà án đã thụ lý là 110 vụ/226 bị cáo; đã xét xử: 94 vụ/194 bị cào Toà án chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát là 93 vụ/191 bị cáo. Số vụ VKS rút quyết định truy tố hoặc thay đổi tội danh 0 vụ/0 bị cáo.
Số liệu nêu trên cho thấy tỷ lệ số vụ mà Toà án đồng ý với quan điểm của VKS chiếm tỷ lệ cao (chiếm tỷ lệ 98,93%), từ đó phản ánh chất lượng truy tố, chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên toà là tốt.
     Qua thực tiễn cho thấy nhiều Kiểm sát viên đã thực hiện rất tốt vai trò trước và trong khi tham gia phiên tòa, bình tĩnh, tự tin trong đối đáp tranh luận, thể hiện được bản lĩnh của người thực hành quyền công tố nhà nước. Các Kiểm sát viên khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã có sự chuẩn bị chu đáo hơn, thể hiện qua việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, đánh giá, hệ thống các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Từ đó đã chuẩn bị đề cương tham gia xét hỏi và dự thảo luận tội sát hơn với nội dung của vụ án, việc trình bày luận tội và đối đáp của Kiểm sát viên tại phiên tòa có chất lượng tốt hơn và có sức thuyết phục hơn; lời lẽ trong bản luận tội, phương pháp, kỹ năng đối đáp của Kiểm sát viên cũng đã được chú ý và có nhiều đổi mới, tiến bộ.
     Tuy nhiên bên cạnh đó cần phải nhìn nhận rằng còn một số Kiểm sát viên khi tranh luận với luật sư và bị cáo chưa có sức thuyết phục, còn né tránh, ngại tranh luận, thậm chí khi “bí” thì chỉ nêu “giữ nguyên quan điểm truy tố”. Một số Kiểm sát viên khi tranh luận không phản bác được quan điểm phản biện của luật sư, bị cáo, không có sức thuyết phục Hội đồng xét xử; có Kiểm sát viên còn lúng túng trong sử dụng từ ngữ và cách lập luận dẫn tới hiệu quả tranh luận không cao. Phong cách, thái độ của một số Kiểm sát viên khi tranh luận còn tỏ ra thiếu bình tĩnh, dẫn đến hạn chế khả năng tranh luận, làm giảm hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật tại phiên tòa nhất là ở các phiên tòa lưu động có đông người tham dự.
Những hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản là do Kiểm sát viên chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong việc chứng minh tội phạm, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân. Trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra còn thiếu chặt chẽ, lơ là không bám sát quá trình điều tra; Trước khi tham gia phiên tòa Kiểm sát viên không nghiên cứu kỹ hồ sơ để nắm vững chứng cứ, không dự kiến được những vấn đề cần tranh luận, những tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa liên quan đến vụ án để có phương án giải quyết. Thêm nữa, vấn đề tranh tụng tại một số phiên tòa còn chưa được coi trọng đúng mức, mặt khác, tỷ lệ án ở cấp huyện có luật sư tham gia ít nên Kiểm sát viên chưa có sự cọ xát thực tế nhiều dẫn đến dễ lúng túng bị động.
     Từ thực tiễn trong việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm đánh giá các ưu khuyết điểm của các Kiểm sát viên như đã nêu trên. Để việc tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa có chất lượng đáp ứng yêu cầu theo tinh thần cải cách tư pháp theo tôi cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau:
     Một là, phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm sát viên. Trước hết bản thân Kiểm sát viên phải nâng cao trách nhiệm cá nhân trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị cho hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Phải tích cực nghiên cứu, học tập để nắm vững các quy định của pháp luật, nhất là pháp luật về hình sự, về tố tụng hình sự, các luật có liên quan, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật; nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm. Thường xuyên rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ về tham gia phiên tòa hình sự như kỹ năng trình bày luận tội, diễn đạt, đối đáp, khả năng phản xạ linh hoạt trước các vấn đề mới phát sinh tại phiên tòa. Thường xuyên tự mình đánh giá lại kết quả hoạt động sau mỗi phiên tòa, rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc những thiếu sót, chú ý lắng nghe các ý kiến góp ý của đồng nghiệp, dư luận của công chúng với thái độ cầu thị để không ngừng hoàn thiện hơn kỹ năng nghiệp vụ của mình.
     Hai là, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án. Mục đích của việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm chắc diễn biến vụ án từ kết quả điều tra; tìm ra những vấn đề còn mâu thuẫn, những điểm chứng cứ yếu, đặc biệt phải xem xét các chứng cứ buộc tội bị cáo. Trong trường hợp nếu bị cáo ra tòa phản cung chối tội thì các chứng cứ đó đủ để buộc tội không, cần chuẩn bị các tài liệu khác có liên quan tới việc kết tội bị cáo và giải quyết vụ án đó. Các tài liệu, chứng cứ được trích cứu, sao chụp đầy đủ, có ghi rõ bút lục theo hồ sơ chính để khi đối đáp tranh luận có thể nêu rõ bút lục của tài liệu trong hồ sơ chính nhằm nâng cao tính thuyết phục trong lập luận đối đáp tranh luận.
Ba là, phải xây dựng kế hoạch xét hỏi và tranh luận đối với từng vụ án. Việc xây dựng kế hoạch xét hỏi gắn liền với xây dựng kế hoạch tranh luận tại phiên tòa và chuẩn bị các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật của các cơ quan chức năng có liên quan tới việc xác định tội danh, điều luật, khoản để áp dụng hình phạt; trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án để chủ động trong đối đáp, tranh luận tại phiên tòa. Kế hoạch xét hỏi phải hỗ trợ đắc lực cho kế hoạch tranh luận tại phiên tòa, khi dự thảo kế hoạch đối đáp tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải tự đặt mình vào vị trí của bị cáo, người bào chữa để tìm các lý lẽ, chứng cứ có lợi cho bị cáo để dự đoán những nội dung chính, những tình huống mà luật sư, bị cáo sẽ tranh luận, sau đó, tìm các tài liệu chứng cứ để bác bỏ. Nếu thấy chứng cứ buộc tội không đủ để bác bỏ chứng cứ chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc không đủ chứng cứ chứng minh bị cáo phạm tội như cáo trạng truy tố mà phạm một tội khác nhẹ hơn thì báo cáo ngay cho Lãnh đạo đơn vị để có hướng giải quyết kịp thời.
     Bốn là, KSV cần có kinh nghiệm và thành thạo các kỹ năng thực hành quyền công tố và KSXX, trong đó có các kỹ năng tranh tụng, có văn hoá ứng xử trong giao tiếp tại phiên toà. Tại phiên tòa, để tranh luận thành công, Kiểm sát viên phải có các kĩ năng nghề nghiệp đặc thù như: Kỹ năng đặt câu hỏi; Kỹ năng quan sát, lắng nghe, tổng hợp ý kiến, ghi chép; Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ; Kỹ năng sử dụng các công cụ, phương tiện kỹ thuật hỗ trợ nhằm phục vụ tốt cho việc tranh luận đạt hiệu quả cao.
      Năm là: Có tinh thần trách nhiệm trong công tác, làm đúng chức trách nhiệm vụ được giao, giữ vững phẩm chất, đạo đức cán bộ của người Kiểm sát “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”, không cẩu thả, thiếu trách nhiệm trong công việc.
     Có thể coi đây là các điều kiện cần và đủ để nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả bài viết: Trương Thanh Tuấn
Nguồn tin: VKSND huyện Bù Đăng
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Liên kết website

Truy cập

  • Đang truy cập: 30
  • Hôm nay: 1086
  • Tổng lượt truy cập: 2218430