HÀNH VI CỦA MAI VĂN T PHẠM TỘI GÌ?

Thứ tư - 13/05/2015 13:44
Vào khoảng 15 giờ ngày 15 tháng 3 năm 2015, anh Trần Văn H điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát: 47C-012, đi theo xe còn có phụ xế (phụ xe) là anh Đoàn Văn K lưu thông trên tuyến đường Quốc lộ 14 hướng từ thị xã ĐX, tỉnh BP đi hướng tỉnh ĐL. Khi xe đi đến đoạn đường thuộc thôn L, xã ĐL, huyện BĐ, tỉnh BP thì va chạm với xe mô tô do anh Trần Văn L điều khiển chạy ngược chiều. Hậu quả làm cho anh Trần Văn L tử vong. Sau khi gây tai nạn, tài xế xe là anh Trần Văn H đã rời khỏi hiện trường chỉ còn lại phụ xe là anh Đoàn Văn K. Thấy vụ tai nạn chết người xảy ra thì các anh Ngô Văn D, Trịnh Thế C và Trần Văn H cùng Mai Văn T từ trong quán nước bên đường đi ra chỗ hiện trường xem. Do thấy anh Trần Văn L (là bạn bè) chết nên các anh  Ngô Văn D, Trịnh Thế C và Trần Văn H tìm tài xế xe ô tô để đánh nhưng do không có tài xế xe ở đó nên các anh D, C, H hỏi phụ xe “tài xế xe ở đâu? Điện thoại cho tài xế đến hiện trường giải quyết vụ việc” thì anh Đoàn Văn K (phụ xe) trả lời “tài xế lên công an đầu thú rồi không mang theo điện thoại, điện thoại của tài xế tôi đang giữ” thì lúc này các anh D, C, H lao vào dùng tay chân đánh, đấm anh K nhưng chỉ gây thương tích nhẹ. Sự việc được mọi người can ngăn nên các anh D, C, H bỏ đi. Thấy anh Đoàn Văn K bị đánh vừa xong thì Mai Văn T đến hỏi anh K “điện thoại của tài xế để đâu?” do sợ bị đánh và nghĩ T là đồng bọn của nhóm người đã đánh mình trước đó nên anh K đưa tay vào túi quần lấy điện thoại của tài xế ra vừa cầm trên tay thì bị Mai Văn T lấy sau đó T bỏ đi khỏi hiện trường.
Theo kết luận định giá tài sản thì chiếc điện thoại trên có giá trị là 2.700.000 đồng.
Quá trình làm việc Mai Văn T khai nhận “do nghe được anh Đoàn Văn K nói đang giữ điện thoại của tài xế xe lúc các anh D, C, H hỏi thì nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại này”. Mai Văn T không có bàn bạc việc đánh K và cũng không quen biết gì với các anh D, C, H.
Lời khai của các anh D, C, H khai cũng không bàn bạc việc đánh nhau do bức xúc thấy bạn bị chết nên đánh anh K; không quen biết gì Mai Văn T.
Anh Đoàn Văn K trình bày do mới bị đánh nên khi anh Mai Văn T hỏi điện thoại đâu thì lấy ra cầm trên tay định đưa cho T nhưng chưa kịp đưa thì T đã lấy rồi bỏ đi (đi bộ từ từ chứ không chạy). Việc lấy điện thoại ra đưa vì sợ bị đánh và nghĩ Mai Văn T là đồng bọn của những người đã đánh K lúc nãy.
Như vậy hành vi của Mai Văn T có phạm tội hình sự hay không, nếu có thì phạm tội gì?
Sau khi vụ án xảy ra có nhiều quan điểm khác nhau, nhìn chung lại có các quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất, cho rằng hành vi của Mai Văn T phạm tội hình sự và đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự. Bởi vì, Mai Văn T đã lợi dụng lúc anh Đoàn Văn K vừa bị các anh D, C, H đánh xong thì Mai Văn T giả vờ đến gặp anh K hỏi điện thoại của tài xế xe khi K chưa kịp đưa thì T đã lấy chiếc điện thoại ngay trên trên tay của anh K rồi rời khỏi hiện trường ngay sau đó. Dấu hiệu đặc trưng là T lấy chiếc điện thoại ngay trên tay của K lúc này anh K còn quản lý được tài sản. Tội phạm đã hoàn thành từ lúc Mai Văn T đã lấy được tài sản. Hành vi của T đã đáp ứng đủ 02 dấu hiệu đặc trưng của tội “Cướp giật tài sản” đó là lấy tài sản còn trong sự quản lý của người quản lý tài sản và dấu hiệu thứ hai là nhanh chóng tẩu thoát.  
Quan điểm thứ hai, cho rằng hành vi của Mai Văn T đã phạm tội hình sự và phạm vào tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 137 Bộ luật hình sự.  Do đặc điểm của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là "chiếm đoạt", nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng hoàn cảnh khách quan khác như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, tai nạn giao thông...trong trường hợp này Mai Văn T đã lợi dụng hoàn cảnh xảy ra vụ tai nạn giao thông, lợi dụng lúc anh K vừa bị đánh xong rồi vào chiếm đoạt tài sản. Những hoàn cảnh cụ thể này không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnh khách quan làm cho họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sản của mình, nhìn thấy người phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được do lo sợ bị đánh hay vì bị thương tật không thể bảo vệ được tài sản mà mình đang quản lý, sở hữu. Rõ ràng hành vi của Mai Văn T đã lợi dụng hoàn cảnh bị vướng mắc, sơ hở, của người quản lý tài sản để thực hiện hành chiếm đoạt, tội phạm đã hoàn thành do T đã có được tài sản, giá trị là 2.700.000 đồng. Do vậy hành vi của Mai Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật hình sự. 
Quan điểm thứ ba, cho rằng hành vi của Mai Văn T phạm tội hình sự và đã phạm vào tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự. Bởi lẽ, mặc dù Mai Văn T không trực tiếp dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng T lợi dụng lúc anh Đoàn Văn K vừa bị đánh xong rồi vào chiếm đoạt tài sản. Về ý thức chủ quan T đã lợi dụng hoàn cảnh lúc anh K vừa bị đánh xong nghĩ T là đồng bọn của những người đã đánh mình trước đó nên anh K buộc phải giao tài sản, nếu không giao thì sẽ bị T đánh tiếp và trong trường hợp cụ thể này là đúng như suy nghĩ của T. Anh K lúc này không thể chống cự được nên đã giao tài sản cho K. Mặt khác, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh K từ lúc T nghe K nói đang quản lý điện thoại của tài xế xe ô tô. Như vậy hành vi của Mai Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự.
Quan điểm thứ tư, cho rằng hành vi của Mai Văn T phạm tội hình sự và phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 135 BLHS. Theo đó, ý thức chiếm đoạt tài sản của Mai Văn T đã có từ lúc nghe anh K nói đang giữ chiếc điện thoại của tài xế xe ô tô, hơn nữa về ý thức chủ quan Mai Văn T biết rằng trong trường hợp này anh K đã lâm vào tình trạng không thể chống cự được nữa do anh K có liên quan trực tiếp đến cái chết của anh Trần Văn L và lo sợ bị đánh tiếp nữa nên buộc K phải giao tài sản (đây là dấu hiệu đặc trưng của tội “Cưỡng đoạt tài sản” (đó là có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản). Tội phạm hoàn thành từ khi T chiếm đoạt được chiếc điện thoại. Như vậy hành vi của Mai Văn T cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự. 
 Qua 04 quan điểm phân tích, đánh giá nêu trên bản thân tôi cơ bản đồng tình với quan điểm thứ hai, cho rằng hành vi của Mai Văn T đã phạm tội hình sự và phạm vào tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 137 BLHS. Bởi vì xét về mặt lý luận thì T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, mặt khác hành vi của T là lợi dụng hoàn cảnh khách quan là do tai nạn giao thông của người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của anh Đoàn Văn K trong lúc anh K bị lâm vào tình trạng không thể quản lý được tài sản do sợ bị đánh hội đồng vì đã hoặc trực tiếp liên quan đến vụ việc tai nạn giao thông làm chết người trước đó. Rõ ràng hành vi của Mai Văn T là đã lợi dụng vào hoàn cảnh của bị hại để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi của T đã đáp ứng dấu hiệu đặc trưng của tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và giá trị tài sản là 2.700.000 đồng nên hành vi của T đã phạm vào tội như đã phân tích như trên.
Tuy nhiên, để có cách nhìn đúng đắn, chính thống hơn về đường lối giải quyết về vụ án nêu trên, để cho việc áp dụng pháp luật phù hợp tôi mong nhận được nhiều ý kiến phản hồi của các đồng chí trong Ngành.
Tác giả bài viết: Trương Thanh Tuấn
- .

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

Avata
Lê Văn Quang, Viện KSND huyện Lộc Ninh - Đăng lúc: 17/07/2015 15:40
Qua nghiên cứu nội dung vụ án của tác giả Trương Thanh Tuấn, Viện KSND huyện Bù Đăng. Về việc định tội danh đối với Mai Văn T.
Theo bài viết thì hành vi của Mai Văn T có bốn quan điểm khác nhau về việc định tội danh đối với Mai Văn T.
Quan điếm thứ nhất, cho rằng hành vi của Mai Văn T phạm tội” Cướp giật tài sản”.
Theo quan điểm của chúng tôi thì hành vi của Mai Văn T không phạm tội “ Cướp giật tài sản”. Bởi lẽ: theo quy định tại Điều 136 BLHS thì tội cướp giật tài sản được hiểu là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng để tránh sự phản kháng của chủ tài sản.
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản thể hiện ở hành vi công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác. Công khai chiếm đoạt tài sản là việc kẽ phạm tội thực hiện hành vi một cách công khai trước mặt mọi người mà không có tính chất lén lút, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản là việc kẽ phạm tội nhanh chóng tiếp cận chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát. Do vậy, có thể nói cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai, người quản lý tài sản hoàn toàn bị bất ngờ trước sự nhanh chóng chiếm đoạt và tẩu thoát của kẽ phạm tội.
Đối chiếu với hành vi của Mai Văn T khi thấy anh Đoàn Văn K bị đánh vừa xong thì Mai Văn T đến hỏi anh K “ Điện thoại của tài xế để đâu” do sợ bị đánh và nghỉ T là đồng bọn của nhóm người đã đánh mình trước đó, nên anh K đưa tay vào túi quần lấy điện thoại của tài xế ra, vừa cầm trên tay thì bị Mai Văn T lấy sau đó Mai Văn T bỏ đi khỏi hiện trường. Nghĩa là Mai Văn T không có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt điện thoại di động và Mai Văn T cũng không bỏ chạy mà đi từ từ. Do vậy cũng không có dấu hiệu nhanh chóng để tẩu thoát. Như vậy hành vi của Mai Văn T chưa đáp ứng đủ dấu hiệu đặc trưng của tội “Cướp giật tài sản” đó là hành vi nhanh chóng để tẩu thoát, nên hành vi của Mai Văn T không cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 136 BLHS.
Quan điểm thứ hai, cho rằng hành vi của Mai Văn T đã phạm vào tội “ Công nhiên chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 137 BLHS.
Theo quan điểm của chúng tôi thì hành vi của Mai Văn T không phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Bỡi lẽ: Theo quy định tại Điều 137 BLHS thì mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện ở hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản. Đó là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công nhiên trong khi chủ tài sản đang ở hoàn cảnh không có khả năng ngăn cản, bảo vệ được tài sản của mình. Khi thực hiện hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, kẽ phạm tội biết tài sản đó đang ở trong tình trạng không có người bảo quản, trông coi. Người phạm tội không cần và không có ý thức dùng bất cứ thủ đoạn nào đối phó với người có trách nhiệm về tài sả; không cần dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần chủ tài sản; và cũng không cần chạy trốn, nhanh chóng để tẩu thoát..
Trở lại nội dung vụ án để chiếm đoạt được tài sản khi Mai Văn T thấy anh K bị đánh vừa xong thì Mai Văn T đã đến hỏi anh K “ Điện thoại của tài xế để đâu” do sợ nên anh K mới lấy điện thoại ra và Mai Văn T đã lấy điện thoại trên tay của anh K. Hành vi này không phải là hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản được mô tả trong Điều 137 BLHS. Do đó Mai Văn T không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Quan điểm thứ ba, cho rằng hành vi của Mai Văn T phạm vào tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 133 BLHS. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này. Bỡi lẽ: Theo cấu thành tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 BLHS, hành vi khách quan của tội cướp tài sản là: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể tấn công được.
Về mặt chủ quan tội phạm được thực hiện với lổi cố ý trực tiếp, mục đích là nhằm chiếm đoạt tài sản, mục đích này hình thành trước khi hoặc trong khi thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa ngay tức khắc vũ lực…. do đó, nếu mục đích chiếm đoạt tài sản hình thành sau khi thực hiện các hành vi trên thì không cấu thành tội cường đoạt tài sản. Theo các tình tiết của vụ án cho thấy khi Mai Văn T do nghe được anh Đoàn Văn K nói đang giữ điện thoại của tài xế xe lúc các anh D,C,H hỏi thì Mai Văn T đã nãy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh K.
Xét về mặt chủ quan thì mục đích của Mai Văn T sau khi thấy anh K bị đánh Mai Văn T đã lợi dụng anh K vừa mới bị đánh xong nghỉ T là đồng bọn của những người đã đánh mình trước đó buộc anh K phải giao tài sản, nếu không giao tài sản thì bị đánh tiếp và anh K cũng không thể chống cự được. Mặc khác cho dù Mai Văn T không dùng vũ lực như khi thấy anh K bị đánh xong thì Mai Văn T đã đến hỏi “ Điện thoại của tài xế để đâu”, vì do mới bị đánh nên anh K không thể chống cự được.
Bỡi vì hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc có nghĩa là để buộc người bị tấn công phải sợ và tin rằng nếu không để cho lấy tài sản thì tính mạng và sức khỏe sẽ bị nguy hại, thường được kết hợp giữa hành vi dùng vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo, để tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin rằng người phạm tội sẽ dùng bạo lực nếu không làm theo yêu cầu của chúng hoặc chống cự. Như vậy khi Mai Văn T thấy anh K bị đánh xong thì Mai Văn T đã có cử chỉ lời nói đó là “Điện thoại của tài xế để đâu” để tạo cảm giác cho anh K sợ và tin rằng không giao tài sản thì sẽ bị Mai Văn T đánh tiếp do đó buộc phải đưa điện thoại cho Mai Văn T. Do vậy cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Mai Văn T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điều 133 BLHS.
Đối với quan điểm thứ tư, cho rằng hành vi của Mai Văn T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Theo quan điểm của chúng tôi thì hành vi của Mai văn T không phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Bỡi lẽ: Hành vi thuộc mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 135 BLHS là đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Nhưng theo nội dung vụ án thì hành vi của Mai Văn T đã lợi dụng khi anh K vừa mới bị đánh xong, Mai Văn T nghỉ rằng mình đến lấy điện thoại của anh K, vì anh K sẽ cho rằng mình là đồng bọn của D,C,H nếu không đưa điện thoại thì sẽ bị đánh tiếp và cũng đúng như suy nghỉ của anh Đoàn Văn K, nên hành vi của Mai Văn T không phạm tội cưỡng đoạt tài sản.
Tóm lại: Với những phân tích và lập luận nêu trên, theo quan điểm của chúng tôi thì hành vi của Mai Văn T đã phạm vào tội “Cướp tài sản ” qui định tại Điều 133 BLHS.
Rất mong nhận được các ý kiến trao đổi phản hồi của các đồng nghiệp.

Tác giả bài viết Lê Văn Quang, Viện KSND huyện Lộc Ninh.

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Liên kết website

Truy cập

  • Đang truy cập: 31
  • Hôm nay: 866
  • Tổng lượt truy cập: 2183070
Bình Phước giải quyết dứt điểm nhiều vụ án hình sự tồn đọng kéo dài