Ngày 15-3-2019 hai Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bắt đầu có hiệu lực

hình minh họa

hình minh họa

Ngày 11/01/2019, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết thông qua Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP (NQ 01/2019) hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP (NQ 02/2019) hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự, cả hai Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/03/2019.
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP gồm 14 điều, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình trên thị trường; quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án. Hợp đồng vay tài sản hướng dẫn trong Nghị quyết này bao gồm hợp đồng cho vay tài sản là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng và hợp đồng vay tài sản là tiền giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng với nhau.
Tại Điều 2 quy định áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng căn cứ vào mốc thời gian xác lập hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng để áp dụng pháp luật. Đối với hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng, được xác lập kể từ 01/01/2017 thì áp dụng Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn BLDS 2015 để giải quyết.Việc áp dụng quy định về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày 01/01/2017 (ngày BLDS 2015 có hiệu lực) như sau: Trường hợp 1, hợp đồng thực hiện xong trước ngày 01/01/2017 mà có tranh chấp thì áp dụng BLDS năm 2005, Nghị quyết 45/2005/NQ-QH11 ngày 14/6/2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng  BLDS 2005 để giải quyết; Trường hợp 2, hợp đồng chưa được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của BLDS 2015 thì áp dụng BLDS 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn để giải quyết. Trường hợp lãi, lãi suất không phù hợp với BLDS 2015 thì áp dụng như trường hợp 1, trừ khi các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung lãi, lãi suất phù hợp với BLDS 2015 và để áp dụng quy định BLDS 2015; Trường hợp 3, hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của BLDS 2015 thì áp dụng quy định như trường hợp 1 để giải quyết…
Ngoài ra, 01/2019/NQ-HĐTP còn quy định về: Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS 2015; xác định thời điểm xét xử và thời gian chậm trả; áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng; xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xét xử sơ thẩm; xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định; điều chỉnh lãi, lãi suất; xác định lãi suất trung bình quy định tại điều 306 của Luật thương mại 2005; xử lý việc không trả nợ đúng hạn trong hợp đồng vay tài sản; quy định lãi, lãi suất trong bản án, Quyết định của Tòa án.
Hiệu lực thi hành NQ 01/2019, đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực nhưng kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Nghị quyết này để giải quyết. Nếu như đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị theo căn cứ khác.
- Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP gồm 3 chương, 9 điều, hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự. Tại Điều 2 Nghị quyết đã hướng dẫn cụ thể hành vi mua bán người, mua bán người dưới 16 tuổi quy định cụ thể 5 tình tiết định tội về Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây: Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người.
          Bên cạnh đó, Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP cũng giải thích "thủ đoạn khác" quy định tại khoản 1 Điều 150 BLHS bao gồm các thủ đoạn: Bắt cóc; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi; đầu độc nạn nhân; lợi dụng việc môi giới hôn nhân, môi giới người đi lao động ở nước ngoài; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng tình thế bị lệ thuộc; lợi dụng tình thế dễ bị tổn thương hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân. Nghị quyết này khắc phục những hạn chế của Điều 150, Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều quy định mang tính định tính, chưa rõ ràng, chưa cụ thể, dẫn đến cách hiểu không thống nhất trong quá trình áp dụng.; các tình tiết định tội và các tình tiết định khung hình phạt.
Nghị quyết cũng quy định người sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nếu có hành vi: Cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và chuyển giao người đó để nhận tiền, tài sản; cưỡng bức, đe dọa hoặc lừa gạt để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và chuyển giao cho người nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể… ( các mục đích vô nhân đạo); lợi dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài để tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để chuyển giao cho người nước ngoài thực hiện các mục đích vô nhân đạo.
Người môi giới sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nếu: Biết mục đích của người nước ngoài là thông qua hoạt động xem mặt hoặc kết hôn để đưa người được chọn ra nước ngoài để thực hiện các mục đích vô nhân đạo nhưng vẫn thực hiện hành vi môi giới để nhận tiền, lợi ích vật chất.
Nội dung Nghị quyết truy cập mục “Văn bản” trên website
http://vksbinhphuoc.gov.vn/


Tác giả bài viết: Hoàng Công

Nguồn tin: Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao