Các yếu tố tác động đến hoạt động THQCT trong điều tra tội giết người

Bên cạnh sự điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề Thực hành quyền công tố (THQCT) trong điều tra các tội giết người, Thông qua hoạt động THQCT nhận thấy còn có các nhân tố xã hội, nhận thức và áp dụng pháp luật của người tiến hành tố tụng có những quan điểm khác nhau, đã tác động đến hoạt động THQCT trong điều tra đối với tội giết người.
(Từ khóa; Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự, Thực hành quyền công tố, bản án hình sự, người tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân…)
Những quy định của hệ thống pháp luật hình sự - tố tụng hình sự của nước đến nay phải nói là hoàn thiện hơn các hệ thống pháp luật dân sự, tố tụng hành chính…Quy định của pháp luật về hoạt động THQCT trong điều tra đối với tội giết người đã có và càng ngày càng được hoàn thiện, cũng không có nghĩa là việc thực thi được tốt mà nó còn phụ thuộc và nhiều yếu tố khác như: hướng dẫn áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, không kịp thời, nhận thức áp dụng pháp luật của những người thi hành pháp luật cùng trong một tội giết người có những quan điểm khác nhau; ảnh hưởng của tập tục của địa phương, của vùng miền; sự tác động của gia đình bị can, người thân của gia đình người tiến hành tố tụng, rồi mặt trái của kinh tế thị trường …đây là những yếu tố tác động không nhỏ đến kết quả của hoạt động THQCT trong điều tra đối với tội giết người dẫn đến những những hạn chế và gặp những khó khăn nhất định, cụ thể:
- Một số vụ án về tội giết người, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) không THQCT ngay từ đầu, do vậy chất lượng hồ sơ và chứng cứ buộc tội chưa đảm bảo dẫn đến một số vụ án phải đình chỉ. Trong hoạt động nghiệp vụ còn có không ít vụ án không được THQCT ngay từ đầu và đề ra yêu cầu điều tra. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân việc thực hiện quyền hạn và trách nhiệm này còn chưa tốt nên công tác THQCT trở nên thụ động, phụ thuộc vào kết quả điều tra của Cơ quan điều tra. Viện kiểm sát không chỉ đạo được quá trình điều tra nên còn để xảy ra sai lầm đáng tiếc.
- Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi đưa ra một số vụ án về tội giết người cụ thể, hiện nay chưa có cách hiểu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng:
+ Trường hợp người phạm tội giết người là người bị bệnh rối loạn nhân cách thực tổn, hạn chế năng lực điều khiển hành vi, khi định tội có áp dụng tình tiết tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là “Có tính chất côn đồ hay không” hay định tội theo cấu thành cơ bản khoản 2 Điều 123. Nếu áp dụng tình tiết này thì sẽ bất lợi cho bị cáo, vì bị cáo bị hạn chế năng lực điều khiển hành vi. Thực tế, một số vụ án VKSND đã truy tố và Tòa án đã xét xử bị cáo về tội giết người theo niểm n khoản 1 Điều 123 BLHS, ví dụ như: Vụ án xảy ngày 15/8/2013 tại tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, chỉ vì mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày Nguyễn Văn Hiệp, đã dùng dao chém chết người chung sống như vợ chồng là chị Võ Thị Hồng Thủy, ngay sau đó Hiệp lấy xe máy của Thủy chạy lên tỉnh Bình Phước chém gây thương tích cho cha dượng là Nguyễn Văn Hà, em cùng cha khác mẹ là Nguyễn Văn Được, hàng xóm là Hoàng Đình Nam, đập phá tài sản của trụ sở công an xã [1]; vụ án Huỳnh Minh Trí xảy ra ở TP. Hồ Chí Minh, ngày 09/6/2016, vì mâu thuẫn nhỏ với chủ quán nước là ông Nguyễn Sỹ Đoan, Trí đã về nhà lấy dao tự tạo (Mã tấu) chém nhiều nhát vào đầu ông Đoan, nhưng ông Đoan không chết mà chỉ bị thương tích 34% [2]. Các bị can này sau có biểu hiện không bình thường đã được CQĐT cho đi giám định tâm thần, kết quả là đã xác định được đều bị bệnh rối loạn nhân cách thực tổn, hạn chế năng lực điều khiển hành vi. Quan điểm của CQĐT tỉnh Bình Phước kết luận điều tra đề nghị truy tố Hiệp về tội giết nhiều người theo điểm a khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999 và Trí theo khoản 2 Điều 93 BLHS năm 1999, nhưng quan điểm của VKS tỉnh Bình Phước phải truy tố đối với Hiệp thêm tình tiết định khung tăng nặng theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999 và đối với Trí theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999, cả 02 bị cáo này ở giai đoạn xét xử các bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều kết án  theo quan điểm truy tố của VKS tỉnh Bình Phước.
+ Trường hợp người phạm tội bị hạn chế năng lực điều khiển hành vi 02 lần phạm tội giết người ở 02 tỉnh khác nhau, có quan điểm là nhập vụ án để điều tra, truy tố, xét xử bị cáo về tội giết người theo điểm a khoản 1 Điều 123 BLHS với tình tiết tăng nặng định khung “Giết từ 02 người trở lên”, nhưng cũng có quan điểm khác là thực hiện điều tra, truy tố, xét xử thành 02 vụ án độc lập theo khoản 2 Điều 123 BLHS, điển hình vụ án Mạc Như Thân xảy ra ở tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng nai: Do bực tức vì bị bà Nguyễn Thị Liên (là mẹ của Hiền) tố cáo và đòi tiền bồi thường (do Thân có hành vi dâm ô Hiền trước đó), nên khoảng 19 giờ ngày 21/9/2013, Mạc Như Thân đã dùng dao đâm 04 nhát vào vùng lưng bà Nguyễn Thị Liên gây tử vong. Trong quá trình điều tra, Mạc Như Thân bị bệnh tâm thần nên ngày 16/01/2014, Thân được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và đưa đến điều trị nội trú tại Khoa điều trị bắt buộc Nam - Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian điều trị bệnh, Thân thấy Nguyễn Văn Đức (Đức cổ lễ) giống Nguyễn Nhất Long là người đã có hành vi dùng dao đâm chết người bạn của Thân tên là Nguyễn Văn Hiền vào ngày 09/01/2011 tại ấp Thanh Sơn, xã Thanh An, nên Thân nảy sinh ý định giết anh Đức để trả thù. Đến khoảng 06 giờ ngày 15/4/2017, Thân đã dùng dao đâm 07 nhát vào người Nguyễn Văn Đức gây tử vong. CQĐT Công an tỉnh Đồng Nai đã khởi tố Thân về tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS và điều tra thành một vụ án độc lập, nhưng quan điểm của VKS và CQĐT công an tỉnh Bình Phước là yêu cầu CQĐT Công an và VKS tỉnh Đồng Nai chuyển vụ án về tỉnh Bình Phước để nhập vụ án để truy tố Thân về tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên”. Sau khi nhập vụ án VKS đã truy tố Mặc Như Thân theo khoản 2 Điều 123 BLHS và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Nhưng Tòa án đã trả hồ sơ đề nghị VKS truy tố Thân theo điểm a khoản 1 Điều 123 BLHS? Ngày 29/11/2018 Tòa án đã xét xử Mạc Như Thân điểm a khoản 1 Điều 123 BLHS với mức án tù chung thân [3]. Đối với các trường hợp nêu trên liên ngành các cơ quan Bộ Công an, VKSND tối cao và Tòa án nhân dân tối cần có văn bản hướng dẫn đường lối giải quyết để áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
Từ những vụ án cụ thể về tội giết người có những quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tác giả kiến nghị Liên ngành Trung ương (Bộ Công an, VKSND tối cao và Tòa án nhân dân tối cao) cần có văn bản hướng dẫn đường lối giải quyết để áp dụng thống nhất trong thực tiễn:

  • Trường hợp người phạm tội giết người là người bị bệnh rối loạn nhân cách thực tổn, hạn chế năng lực điều khiển hành vi, khi định tội không áp dụng tình tiết tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là “Có tính chất côn đồ” mà định tội theo cấu thành cơ bản ở khoản 2 Điều 123 BLHS.
  • Trường hợp bị cáo 02 lần phạm tội giết người ở 02 tỉnh khác nhau thì phải nhập vụ án để điều tra, truy tố, xét xử bị cáo về tội giết người theo điểm a khoản 1 Điều 123 BLHS với tình tiết tăng nặng định khung “Giết từ 02 người trở lên” không thực hiện điều tra, truy tố, xét xử thành 02 vụ án độc lập theo khoản 2 Điều 123 và không được áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Việc hướng dẫn kịp thời của liên ngành tố tụng trung ương không những để có sự thống nhất trong nhận thức áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, mà còn đảm bảo cho pháp luật hình sự được thực thi thống nhất, việc xử lý được nghiêm minh đúng người, đúng tội, giảm thời gian, tài chính của nhà nước đảm bảo quyền con người, quyền công dân và sự công bằng của pháp luật hình sự.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Bản án hình sự phúc thẩm số 252/2017/HSPT ngày 06/6/2017 Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh;
  2. Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2018/HS-ST ngày 13/9/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  3. Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HS-ST ngày 19/3/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  4. Bộ luật tố tụng hình sự (2015), Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội;
  5. Bộ luật hình sự (năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nhà xuất bản chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội.
 
 

Tác giả bài viết: Quốc hân

Nguồn tin: Viện KSND tỉnh Bình Phước