Vướng mắc trong áp dụng quy định đương nhiên xóa án tích

Thứ năm - 14/11/2019 10:24
Thực tiễn áp dụng quy định về đương nhiên xóa án tích vẫn còn có cách hiểu và nhận thức khác nhau. Tác giả đưa ra một ví dụ cụ thể đang có nhiều ý kiến chưa thống nhất về thời điểm đương nhiên xóa án tích để bạn đọc cùng trao đổi, góp ý hoàn thiện quy định của pháp luật.

 
Tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 quy định đương nhiên xóa án tích như sau:
2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
Như vậy, khoản 2 Điều 70 BLHS quy định người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;  05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Ngày 07/4/2017, Tòa án nhân dân tối cao (TAND) đã ban hành Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC hướng dẫn TAND, Tòa án Quân sự các cấp và các đơn vị trực thuộc TAND tối cao giải quyết như sau: Khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 quy định “Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn…”. Từ khi chấp hành xong bản án ở đây được hiểu là chấp hành xong tất cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Tuy nhiên, quy định này đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 70 BLHS năm 2015, theo đó, thời điểm để tính đương nhiên được xóa án tích là kể từ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án.
Ví dụ: Ngày 14/4/2014, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe mô tô trị giá 3.000.000 đồng. Ngày 26/9/2014, H bị TAND xử phạt 18 tháng tù. Tính đến ngày 26/8/2017, Nguyễn Văn H mới đương nhiên được xóa án tích. Nhưng ngày 18/3/2017, Nguyễn Văn H tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là 30 kg hạt tiêu trị giá 1.560.000 đồng, nên ngày 12/4/2018, Nguyễn Văn H bị khởi tố về Tội trộm cắp tài sản và được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong thời gian thực hiện biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra thì ngày 18/6/2018, Nguyễn Văn H tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là 15 con thỏ trị giá 1.550.000 đồng.
Qua nội dung vụ việc nêu trên đối với hành vi trộm cắp ngày 18/3/2017, thì đương nhiên là Nguyễn Văn H phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Mặc dù tài sản Nguyễn Văn H trộm cắp trị giá 1.560.000 đồng, tuy chưa đủ định lượng nhưng do Nguyễn Văn H chưa đưa xóa án tích về hành vi chiếm đoạt nên việc khởi tố Nguyễn Văn H là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với hành vi của Nguyễn Văn H vào ngày 18/6/2018, trộm cắp tài sản là 15 con thỏ trị giá 1.550.000 đồng thì việc xử lý Nguyễn Văn H hiện nay đang có hai ý kiến không thống nhất.
Ý kiến thứ nhất cho rằng, đối với hành vi ngày 18/6/2018, Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản là 15 con thỏ trị giá 1.550.000 đồng, do tại thời điểm này Nguyễn Văn H đã được xóa án tích. Do vậy, tài sản mà Nguyễn Văn H trộm cắp trị giá 1.550.000 đồng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự (dưới 2.000.000 đồng) nên Nguyễn Văn H không phạm tội trộm cắp tài sản. Và ý kiến này cũng cho rằng, vì hành vi Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản ngày 18/3/2017, trị giá tài sản 1.560.000 đồng (dưới hai triệu đồng). Do H chưa được xóa án tích nên việc khởi tố Nguyễn Văn H về Tội trộm cắp tài sản là có căn cứ. Đối với lần trộm cắp tài sản ngày 18/6/2018, Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản là 15 con thỏ trị giá 1.550.000 đồng (dưới 2.000.000đồng) không đủ định lượng để khởi tố Nguyễn Văn H về tội trộm cắp tài sản. Bởi vì, ngày 26/8/2017, thì Nguyễn Văn H đương nhiên được xóa án tích nên lần trộm cắp tài sản ngày 18/6/2018, H đã được xóa án tích do tài sản H trộm (dưới 2.000.000 đồng) không đủ định lượng và không thể cho rằng, H chưa được xóa án tích mà ngày 18/3/2017, lại tiếp tục phạm tội. Bởi vì, đối với lần phạm tội ngày 18/3/2017, chỉ mới khởi tố Nguyễn Văn H về hành vi trộm cắp tài sản để điều tra, chưa xét xử nên chưa đủ căn cứ để xác định Nguyễn Văn H có phạm tội hay không phạm tội. Vì theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì Nguyễn Văn H chưa bị xét xử, chưa có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên không thể khẳng định Nguyễn Văn H phạm tội vào ngày 18/6/2018 là đang trong thời gian bị kết án chưa được xóa án tích. Do vậy, không đủ căn cứ để khởi tố Nguyễn Văn H về hành vi trộm cắp tài sản mà chỉ xử lý hành chính đối với Nguyễn Văn H.
Ý kiến thứ hai cho rằng, hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn H vào ngày 18/6/2018, tuy chưa đủ định lượng, nhưng do vào ngày 18/3/2017 Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên đủ căn cứ khởi tố Nguyễn Văn H về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015.
Tác giả đồng ý với ý kiến thứ hai, với lập luận như sau: Ngày 14/4/2014, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe mô tô trị giá 3.000.000 đồng, đến ngày 26/9/2014, H bị TAND xử phạt 18 tháng tù. Đến ngày 26/8/2015, Nguyễn Văn H mới chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến ngày 20/8/2017, thì Nguyễn Văn H mới đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS. Nhưng ngày 18/3/2017, H lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là 30 kg hạt tiêu trị giá 1.560.000 đồng. Đến ngày 12/4/2018, H bị khởi tố để điều tra về Tội trộm cắp tài sản và được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong thời gian áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra thì ngày 18/6/2018, Nguyễn Văn H lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là 15 con thỏ trị giá 1.550.000 đồng. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS thì một người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm……... Nhưng trong thời gian Nguyễn Văn H chưa được xóa án tích thì ngày 18/3/2017, Nguyễn Văn H lại tiếp tục phạm tội. Tuy tài sản H trộm ngày 18/3/2017 chưa đủ định lượng (dưới 2.000.000đồng) nhưng H đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, do vậy, trong thời gian chưa được xóa án tích mà H lại phạm tội. Như vậy, lần phạm tội vào ngày 18/6/2018 vẫn phải xem là H phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Bởi vì, khi tính thời hạn xóa án tích đối với Nguyễn Văn H là 2 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù của bản án ngày 26/9/2014 là tình từ ngày 26/8/2015 thì đến ngày 26/8/2017, Nguyễn Văn H mới được đương nhiên xóa án tích. Nhưng ngày 18/3/2017, H lại phạm tội mới, do vậy, Nguyễn Văn H không được đương nhiên xóa án tích. Tuy Nguyễn Văn H chỉ mới bị khởi tố để điều tra, chưa xét xử, nhưng không thể cho rằng phải có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mới biết được Nguyễn Văn H có phạm tội hay không phạm tội, mà theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS quy định “Phạm tội mới” có nghĩa là vi phạm pháp luật hình sự chứ không đồng nghĩa với “kết tội là do Tòa án ra bản án kết tội một người nào đó phạm tội” nên không cần thiết phải có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mới cho rằng Nguyễn Văn H có phạm tội hay không phạm tội như ý kiến thứ nhất đã nêu.
Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, để áp dụng pháp luật được thống nhất, tác giả đề nghị các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hoặc có hướng dẫn để việc áp dụng được thống nhất đối với khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 theo hướng: Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự trong thời hạn sau đây”……….
Tác giả bài viết: Lê Văn Quang - Viện KSND huyện Lộc Ninh
Nguồn tin: Tạp chí Kiểm sát số 21/2019
- .

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 9
  • Hôm nay: 1062
  • Tổng lượt truy cập: 3705132