Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm bản án Dân sự, Hôn nhân gia đình, hành chính sơ thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước

Thứ tư - 17/04/2019 23:41
Thông qua công tác kiểm sát giải quyết án Dân sự, Hôn nhân gia đình, hành chính sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tổng hợp những kinh nghiệm phát hiện bản án, quyết định vi phạm để kháng nghị phúc thẩm và đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm án Dân sự, Hôn nhân gia đình, hành chính sơ thẩm trong thời gian tới.
(Từ khóa: Viện kiểm sát, Toà án nhân dân, Bộ Luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Hôn nhân gia đình, Kinh doanh thương mại, Kiểm sát viên…)
Bình Phước là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích tự nhiện rộng lớn, đất đai màu mỡ, nên có số dân từ nơi khác đến sinh sống tăng theo cơ học ngày càng đông, do đó tình hình tranh chấp về dân sự, Hôn nhân và gia đình (HNGĐ), khiếu kiện về hành chính, xảy ra trên địa bàn ngày càng nhiều, nhất là các tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu bồi thường đất tái định cư. Vì vậy, số lượng án do Tòa án 2 cấp thụ lý ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung tranh chấp.
Kể từ ngày BLTTDS năm 2015 có hiệu lực đến nay, Kiểm sát viên (KSV) hai cấp, nhất là cấp huyện được phân công nhiệm vụ ở lĩnh vực công tác này đã có nhiều cố gắng nỗ lực trong công tác, lãnh đạo cấp huyện cũng đã có sự quan tâm hơn góp phần cùng Viện kiểm sát (VKS) hai cấp đạt nhiều kết quả; chất lượng nghiên cứu, tham gia phiên tòa, phát biểu của KSV, bản lĩnh của KSV từng bước được nâng cao. Góp phần giúp HĐXX ban hành các bản án đúng quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Nhiều KSV đã kịp thời tham mưu lãnh đạo Viện ban hành kháng nghị phúc thẩm ngang cấp hoặc báo cáo VKS tỉnh để kháng nghị phúc thẩm. Số lượng kháng nghị, kiến nghị ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng được nâng cao. Góp phần cùng ngành đạt nhiều kết quả, tạo niềm tin cho nhân dân, và cấp ủy địa phương.
Tuy nhiên, trong thời gian qua cũng không ít KSV nghiên cứu hồ sơ chưa sâu, chưa phân tích đánh giá hết các chứng cứ, đề xuất còn chung chung nên khó khăn trong việc kiểm sát kết quả giải quyết, phát biểu của KSV khi tham gia phiên tòa còn hình thức, chất lượng chưa cao. Số lượng án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy, sửa hàng năm giảm không đáng kể. Trong khi đó số lượng kháng nghị so với số án hủy sửa vẫn còn ít, nhất là công tác kháng nghị ngang cấp của VKS huyện vẫn còn khiêm tốn; thậm chí có huyện có án hủy, sửa nhưng không ban hành được kháng nghị nào! Chất lượng một số bản kháng nghị chưa cao, phân tích, lập luận thiếu chặt chẽ, không nêu đầy đủ những vi phạm của bản án sơ thẩm, chưa đánh giá đúng về tính chất, mức độ vi phạm của Hội đồng xét xử.
Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân nhưng do những nguyên nhân chủ yếu đó là: Các quy định pháp luật về lĩnh vực này rộng, phức tạp, có nhiều thay đổi theo từng thời kỳ, việc sao gửi cho kiểm sát viên còn chậm, dẫn đến việc cập nhật, nhiên cứu áp dụng chậm. Vẫn còn tình trạng tòa án chuyển bản án chậm cho Vks cùng cấp nên việc sao gửi bản án về phòng 9 không kịp thời. Lãnh đạo, kiểm sát viên, được phân công nhiệm vụ lĩnh vực dân sự - hành chính vẫn cón tâm lý xem nhẹ khâu công tác này, chưa nhận thức đúng đắn vị trí khâu công tác này, thậm chí không tham gia phiên tòa, để tòa án xét xử vắng mặt kiểm sát viên. Khi kiểm sát bản án, do nể nang, ngại va chạm nên không thực hiện quyền kháng nghị ngang cấp; khi nhận được bản án đúng hạn nhưng chậm sao gửi về cho phòng 9 để cùng phối hợp kiểm sát bản án.
Qua kết quả theo dõi của các KSV được phân công phụ trách địa bàn, giải quyết phúc thẩm trong thời gian qua, nhận thấy quá trình giải quyết của cấp sơ thẩm thường mắc một số vi phạm phổ biến như:
- Không đưa, đưa không đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố tụng; xác định sai tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: người liên quan thì xác định là người làm chứng hoặc không có tư cách chủ thể (phòng, ban, đơn vị trực thuộc) nhưng lại đưa tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
- Giải quyết vượt quá yêu cầu của người khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập hoặc giải quyết không hết yêu cầu, chưa triệt để các vấn đề cần giải quyết;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc phản tố nhưng tòa sơ thẩm không yêu cầu đương sự làm đơn, đóng tạm ứng án phí để xem xét thụ lý giải quyết trong cùng vụ án; không thụ lý đơn phản tố, yêu cầu độc lập nhưng giải quyết các yêu cầu này;
- Thu thập chứng cứ không đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu khách quan thường ở các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế như sử dụng chứng cứ cam kết là bản potocoppy chưa được công chứng, chứng thực hay xác nhận của Tòa án là đã đối chiếu với bản chính; không thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm rõ trình tự, thủ tục kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các đương sự; không xác minh làm rõ quá trình sử dụng đất, trồng cây trên đất, chăm sóc và quản lý cây trồng trên đất, không làm việc thay đổi diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không làm rõ quá trình thay đổi bản đồ địa chính qua các thời điểm;
- Thay đổi người tiến hành tố tụng nhưng không có quyết định, xét xử vắng mặt đương sự không đúng quy định;
- Tuyên án không rõ ràng, khó khi hành: thường xảy ra ở các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, sau ly hôn, chia thừa kế là quyền sử dụng đất; tuyên trách nhiệm liên đới nhưng không theo phần cụ thể;
- Áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án không đúng: chia tài sản chung vợ chồng nhưng không xem xét, tính đến nguồn gốc công sức đóng góp của các bên; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp nhưng tuyên vô hiệu và ngược lại; tuyên giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu; tính lãi suất trong các hợp đồng vay, hợp đồng tín dụng không đúng;
- Xác định nghĩa vụ án phí đương sự phải chịu không đúng quy định, như đương sự chịu mức án phí cấp dưỡng không giá ngạch nhưng buộc đương sự chịu án phí cấp dưỡng có giá ngạch; không chấp nhận yêu cầu của đương sự nhưng không buộc đương sự chịu án phí, chia tài sản chung cho đương sự nhưng lại miễn ½ hoặc toàn bộ án phí cho đương sự;
Xác định sai đối tượng khởi kiện thường xảy ra ở các vụ án hành chính.
Mặc dù, các vi phạm trên là không mới, các vi phạm này đã được VKS tỉnh, các VKS cấp cao thông báo rút kinh nghiệm nhiều nhưng cấp sơ thẩm vẫn còn mắc phải. Qua kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm cũng như tham gia phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy có một số kinh nghiệm kiểm sát bản án mà không cần đọc hồ sơ vụ án có thể phát hiện vi phạm.
- Kiểm sát bản án sơ thẩm: theo quy định Tại điều 5 BLTTDS 2015 quy định: “…Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”
Như vậy, khi nghiên cứu bản án sơ thẩm thì ngoài kiểm sát hình thức bản án, trước hết KSV phải nghiên cứu quan hệ pháp luật mà tòa án thụ lý thể hiện phía trên góc bên trái của bản án. Sau đó nghiên cứu lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người liên quan để xác định yêu cầu cụ thể của đương sự là gì? Bao gồm mấy vấn đề? Khi nghiên cứu lời trình bày của đương sự nào xong thì KSV so sánh với quan hệ pháp luật tòa án thụ lý giải quyết có mâu thuẫn không. Nếu có thì nghiên cứu bản chất quan hệ pháp luật được xác định đúng chưa, nếu thấy không phù hợp tức bản án quan hệ pháp luật mà bản án xác định là không đúng.
Ví dụ 1:Ngân hàng A cho ông B vay tiền theo hợp đồng tín dụng, việc vay có biện pháp đảm bảo bằng quyền sử dụng đất của ông B. Đến hạn ông B không trả nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Quá trình giải quyết ông B yêu cầu hủy hợp đồng bảo đảm giữa ông và ngân hàng.
Quan hệ tranh chấp trong trường hợp này là tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Nếu tên quan hệ tranh chấp mà Tòa án thể hiện góc bên trái trên cùng tờ thứ nhất là hợp đồng tín dụng mà thiếu hợp đồng thế chấp là không đúng; hoặc xác định hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản thì quan hệ hợp đồng vay tài sản là không đúng.
Tiếp theo KSV, nghiên cứu yêu cầu phần quyết định của bản án. Khi đọc phần quyết định của bản án, KSV cần so sánh, đối chiếu với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xem phần quyết định của bản án đã giải quyết hết yêu cầu cụ thể chưa? Nếu thiếu tức là chưa giải quyết triệt để yêu cầu của nguyên đơn, nếu giải quyết nhiều hơn yêu cầu của đương sự tức là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, vi phạm nghiêm trọng điều 5 BLTTDS thì cần tham mưu lãnh đạo kháng nghị.
Ví dụ 2: Nguyên đơn A khởi kiện yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nhưng bản án sơ thẩm chỉ giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, còn về tài sản trên đất thì tòa sơ thẩm không công nhận cũng không bác yêu cầu là giải quyết vụ án chưa giải quyết triệt để yêu cầu của đương sự.
Tiếp theo KSV Nghiên cứu nguyên đơn khởi kiện yêu cầu những ai có trách nhiệm, vấn đề yêu cầu này liên quan đến những ai? Những người đó có tên trong thành phần tham gia tố tụng được bản án ghi nhận hay không? Nếu không có tức là tòa án sơ thẩm không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng điều 73 BLTTDS.
Ví dụ: trong ví dụ 1. Nếu quyền sử dụng đất thế chấp là tài sản chung của vợ chồng ông B và Bà C thì việc giải quyết có liên quan đến quyền lợi của bà C. Nếu trong danh sách đương sự không có tên bà C ở mục người liên quan tức không đưa bà C tham gia tố tụng.
Khi nghiên cứu phần quyết định bản án, cần chú ý phần cuối của quyết định trong bản án, đó là phần án phí. Đoạn cuối của phần án phí thường tuyên về hoàn trả hoặc được trừ vào án phí mà đương sự phải chịu. Do đó, bản án tuyên bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độp lập của người liên quan và buộc họ phải chịu án phí nhưng không khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí (do không nộp) tức là quá trình giải quyết vụ án, tòa sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (trừ trường hợp họ được miễn nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí). Tuy nhiên, có trường hợp nguyên đơn khó khăn về kinh tế được miễn nghĩa vụ đóng tạm ứng án phí nhưng phần quyết định, họ lại được nhận, chia tài sản nhưng phần quyết định về án phí vẫn miễn cho họ là không đúng. Hoặc nguyên đơn là người cao tuổi thì được miễn án phí nhưng lại buộc chịu án phí là không đúng.
Ví dụ: vụ án ly hôn giữa nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Thuyền - Bị đơn:  anh Nguyễn Văn Duyên: chị Thuyền được tòa sơ thẩm chia (giao) các tài sản chung với tổng giá trị là 5000 triệu, nhưng phần án phí lại miễn ½ án phí cho chị Duyên là không đúng.
  Sau đó, KSV mới bắt đầu nghiên cứu phần nhận xét của bản án. Khi nghiên cứu phần này KSV cần lưu ý lập luận căn cứ bản án để giải quyết vụ án và so sánh với phần quyết định của bản án có phù hợp hay không. Nếu phần nhận xét và phần quyết định có sự mâu thuẫn, nhận xét “một đằng” quyết định “một nẻo” tức là bản án có sai phạm và cần tham mưu lãnh đạo kháng nghị. Nhận xét nhưng không quyết định hoặc ngược lại không nhận xét mà lại quyết định là đều không đúng quy định pháp luật. Khi nghiên cứu căn cứ pháp luật mà bản án nêu có đúng, phù hợp hay không và đặc biệt phải chú ý quy định pháp luật nội dung để xem xét giải quyết phải là quy định có hiệu lực tại thời điểm giao dịch chứ không phải tại thời điểm giải quyết.
Cuối cùng KSV nghiên cứu một lần nữa quyết định của bản án. Nếu các vấn trên đều đảm bảo đúng quy định pháp luật thì KSV nghiên cứu lại phần quyết định một lần nữa xem phần quyết định của bản án có đảm bảo khả năng thi hành trên thực tế hay không? Nếu quyết định đúng mà không có khả năng thi hành thì cũng cần kháng nghị khắc phục đảm bảo khả năng thi hành trên thực tế.
Ví dụ: kiện đòi tài sản, Bản án sơ thẩm tuyên buộc:“Vợ chồng ông A có trách Nhiệm tự di dời toàn bộ số cây cao su, cây cà phê và cây điều trồng trên đất để trả lại diện tích đất cho vợ chồng A là không thể thi hành trên thực tế!
- Kiểm sát quyết định sơ thẩm (đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định ADBPKTT, chuyển vụ án ...): Khi nhận được quyết định của tòa án cùng cấp gửi đến, KSV cần nghiên cứu phần đầu của quyết định, chú ý phần lý do và căn cứ ban hành quyết định. So sánh lý do và căn cứ ban hành quyết định có phù hợp hay không? Nếu phù hợp thì cần so sánh một lần nữa với nội hàm của điều luật được quy định trong Luật tố tụng dân sự (hành chính) để xem căn cứ ban hành có chính xác hay không?
Kiểm sát về căn cứ ra quyết định: Xem xét lý do ra quyết định phải được nêu cụ thể, rõ ràng, áp dụng điểm nào tại khoản, Điều luật cụ thể. Trường hợp, quyết định chỉ ghi lý do chung chung, không cụ thể thì phải yêu cầu Tòa án nêu rõ lý do trong quyết định nhằm tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo, VKS thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị.
Kiểm sát về nội dung của Quyết định: Xác định số, ngày thụ lý, đương sự có đúng với thông báo thụ lý vụ án đã nhận được trước đó hay không? Qua quan hệ tranh chấp, địa chỉ của các đương sự để xác định thẩm quyền giải quyết có đúng không (thẩm quyền về vụ việc, lãnh thổ, cấp). Xác định thẩm quyền ra quyết định là của Thẩm phán hay Hội đồng xét xử.
Khi cần thiết thì KSV tham mưu lãnh đạo làm văn bản mượn hồ sơ để nghiên cứu, xem xét đối chiếu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ với quy định của pháp luật để xác định Tòa án căn cứ ban hành quyết định có đúng quy định hay không.
Đối với các vi phạm nhưng nhận thấy tính chất ít nghiêm trọng, không ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự thì tùy trường hợp ban hành kiến nghị theo từng vụ việc hoặc tập hợp để kiến nghị. Kiến nghị phải ban hành đúng mẫu do VKSND tối cao. Các kiến nghị cần được gửi cấp trên theo tổng hợp, theo dõi.
- Để nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị, kiến nghị trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, HNGĐ, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động sơ thẩm, VKS hai cấp cần tập trung vào một số giải pháp sau:
Thứ nhất: Tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự; Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 22/3/2018 về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật. Từ đó, xác định kháng nghị, kiến nghị là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của khâu công tác kiểm sát giải quyết án dân sự - hành chính. Nâng cao trách nhiệm pháp lý của KSV cấp huyện và Phòng 9. Kiểm tra viên, kiểm sát viên 2 cấp của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phải nhận thức đầy đủ quyền kháng nghị, kiến nghị theo Luật tổ chức Viện kiểm sát và Luật Tố tụng Dân sự, Hành chính. Đây là quyền năng pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện tốt chức năng kháng nghị, kiến nghị theo đúng quy định pháp luật.
Thứ hai: Tăng cường theo dõi việc Tòa án cùng cấp thụ lý, thường xuyên đối chiếu kết quả giải quyết của tòa cùng cấp. Việc kiểm sát phải được lập phiếu kiểm sát theo mẫu và kiểm sát viên phải thể hiện rõ quan điểm của mình khi nghiên cứu, kiểm sát bản án quyết định; nếu phát hiện có vi phạm phải đề xuất nội dung kháng nghị, phạm vi kháng nghị và có ý kiến phê duyệt của lãnh đạo đơn vị, sau đó sao gửi phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát tỉnh để kiểm tra và lưu hồ sơ kiểm sát.
Thứ ba: Khi phát hiện được vi phạm của bản án, quyết định cần phải nhanh chóng mượn hồ sơ vụ án nghiên cứu xem xét để xác định mức độ vi phạm, vi phạm điều khoản nào của luật tố tụng và nội dung. Đồng thời phải báo cáo đề xuất lãnh đạo đơn vị kháng nghị hay không kháng nghị; khi ban hành kháng nghị phải đảm bảo trong thời hạn kháng nghị, phải đảm bảo về hình thức kháng nghị theo mẫu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Thứ tư: Nâng cao ý thức trách nhiệm của Kiểm tra viên, kiểm sát viên được phân công thực hiện công tác dân sự, hành chính tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, tích lũy kinh nghiệm để phục vụ cho công tác nghiệp vụ. Tăng cường công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát hai cấp để thực hiện tốt công tác kiểm sát bản án, quyết định, kịp thời phát hiện vi phạm và thực hiện kháng nghị phúc thẩm, hạn chế việc kháng nghị rồi phải rút quyết định kháng nghị.
Thứ năm: Phòng nghiệp vụ thường xuyên tổng hợp, ra thông báo rút kinh nghiệm về những thiếu sót hạn chế của từng kháng nghị, kể cả những kháng nghị có chất lượng tốt để Viện kiểm sát hai cấp cùng tham khảo, rút kinh nghiệm chung. Tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ và kiểm tra hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ,việc dân sự, hành chính đới với cấp huyện,thị đồng thời cũng cần tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo và kiểm sát viên Phòng nghiệp vụ trong việc kiểm tra, kiểm sát bản án, quyết định của cấp huyện, thị gửi đến để kịp thời phát hiện thiếu sót của cấp sơ thẩm, tham mưu cho lãnh đạo thực hiện công tác kháng nghị, hạn chế đến mức thấp nhất những trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa, hủy mà Viện kiểm sát không phát hiện được vi phạm để kháng nghị./.
                                                                                  
Tác giả bài viết: Nguyễn Quốc Hân* và Nguyễn Thanh Mến**
- .

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 34
  • Hôm nay: 2963
  • Tổng lượt truy cập: 3638630