Tăng cường trách nhiệm trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra

Chủ nhật - 20/10/2019 19:59
Tăng cường trách nhiệm trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra

Tăng cường trách nhiệm trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra

Giải pháp “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” trong Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Bình Phước
Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, kiên quyết không để xảy ra oan, sai, đồng thời thực hiện nghiêm Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012; Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội về "Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm" là mục tiêu, yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (KSND) tối cao được nêu tại Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện KSND tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”.
Ban lãnh đạo Viện KSND tỉnh Bình Phước trong 05 năm qua đã chỉ đạo quyết liệt đề ra nhiều giải pháp đồng bộ, thiết thực, có hiệu quả để thực hiện tốt chủ trương này, chính vì thế trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra được nâng cao, từ đó bảo đảm việc điều tra, xử lý tội phạm được chính xác, kịp thời, hạn chế thấp nhất bỏ lọt tội phạm, tỷ lệ các vụ án hình sự bị trả điều tra bổ sung, bị huỷ, sửa trong các năm đều giảm mạnh, không để xảy ra oan sai, góp phần vào thành tích Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Bình Phước 03 năm liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong đó 02 năm liền được tặng “Cờ thi đua của ngành Kiểm sát nhân dân”.
Tuy đã đạt rất nhiều kết quả tốt, nhưng tỷ lệ án bị trả điều tra bổ sung, bị huỷ, sửa của Bình Phước vẫn còn, có trường hợp bỏ lọt tội phạm. Nguyên nhân là do một số cán bộ, Kiểm sát viên chưa làm hết trách nhiệm, còn thiếu chủ động; chưa nắm được, hiểu được hoạt động thực hành quyền công tố là gì, việc gắn hoạt động thực hành quyền công tố vào hoạt động điều tra như thế nào cho đạt hiệu quả; chưa nắm đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng, chưa nắm được các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng và các ngành luật liên quan dẫn tới không biết được để thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra như:
+ Phải kịp thời đánh giá chứng cứ, đề ra yêu cầu điều tra, yêu cầu khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
+ Phải trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục;
+ Phải thự hiện tốt việc xem xét phê chuẩn, áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp hạn chế quyền con người;
+ Phải kịp thời đưa ra yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;
+ Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
+ Chủ động tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội, chủ yếu chỉ đưa ra yêu cầu, ngồi đợi Điều tra viên thực hiện, …
Vì thế chưa thực hiện tốt được các nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được pháp luật quy định, cụ thể:
Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
Điều 12 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Điều 14 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát.
Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.
Điều 43 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm tra viên.
Điều 150 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 159 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Điều 166 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự.
Điều 168 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát.

Điều 11 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật này; phải phát hiện kịp thời và yêu cầu, kiến nghị Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra”
Và những quy định tại các Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS.
Qua thực tiễn cho thấy để thực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của Viện KSND, tăng cường hơn trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, Viện kiểm sát hai cấp cần phải chủ động hơn, tích cực áp dụng mọi biên pháp tố tụng từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra kịp thời, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự, trong đó cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản như sau:
- Thứ nhất, Viện kiểm sát hai cấp phải thực hành quyền công tố sớm hơn, chuyển từ hoạt động kiểm sát sang hoạt động công tố ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự cho thấy giai đoạn tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm có ý nghĩa quan trọng; giải quyết tốt giai đoạn này sẽ góp phần chống bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Điều 159 BLTTHS thì Viện kiểm sát thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử án hình sự. Trong giai đoạn giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn phê chuẩn hay không phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn; đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm; yêu cầu khởi tố vụ án, quyết định khởi tố vụ án; trực tiếp giải quyết tố giác tin báo về tội phạm trong trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi tắt là CQĐT) có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác tin báo về tội phạm, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục; đồng thời quy định cụ thể thẩm quyền của Viện kiểm sát và trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát.
Vấn đề đặt ra là Viện kiểm sát hai cấp phải quản lý được đầy đủ tình hình tội phạm và kết quả tiếp nhận, xác minh, giải quyết tố giác tin báo của CQĐT; phát hiện được vi phạm pháp luật của cơ quan này và áp dụng các thẩm quyền được BLTTHS quy định để khắc phục, chống oan sai. Để thực hiện tốt nội dung này, Viện trưởng Viện KSND cấp huyện, Trưởng các Phòng 1,3 phải đổi mới phương pháp, cách làm để thực sự chủ động, gắn chặt trách nhiệm của Viện kiểm sát với kết quả tiếp nhận, xác minh, giải quyết tố giác tin báo về tội phạm của CQĐT.
- Thứ hai, Viện kiểm sát hai cấp phải chú trọng đề ra các yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 160 BLTTHS khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết tố giác tin báo không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát phải yêu cầu CQĐT thực hiện việc tiếp nhận, xác minh, giải quyết; tự kiểm tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát; cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; yêu cầu thay đổi Điều tra viên,…và CQĐT có trách nhiệm thực hiện.
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra; yêu cầu truy nã bị can,…Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát phải yêu cầu CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra đúng quy định của pháp luật; trường hợp CQĐT không thực hiện hoặc thực hiện không đạt yêu cầu thì Viện kiểm sát phải trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS, cụ thể:
+ Trong giai đoạn giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, nếu phát hiện CQĐT có vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh về tố giác tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục thì Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết (Khoản 2 Điều 145 BLTTHS). Đây là quyền, đồng thời cũng là trách nhiệm của Viện kiểm sát. Để thực hiện tốt vấn đề này, đòi hỏi Kiểm sát viên, Lãnh đạo đơn vị phải giỏi về nghiệp vụ, có bản lĩnh vững vàng; Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác tin báo về tội phạm có kết quả tốt sẽ nâng cao uy tín, hiệu quả hoạt động công tố, kết quả ngược lại sẽ làm giảm vai trò công tố của Viện kiểm sát.
+ Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của CQĐT hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục (Khoản 7 Điều 165 BLTTHS). Như vậy, theo quy định nêu trên thì Viện kiểm sát có đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng để chống oan, sai trong giai đoạn điều tra; nếu những quy định đó không được thực hiện đầy đủ, để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm thì trách nhiệm của Viện kiểm sát sẽ lớn hơn; Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra nhưng không đầy đủ, chính xác,…dẫn đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ điều tra vì không chứng minh được tội phạm,…thì phải xem xét trách nhiệm của Kiểm sát viên và Lãnh đạo đơn vị.
- Thứ ba, nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc ban hành các quyết định tố tụng trong hoạt động điều tra
BLTTHS yêu cầu Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, gia hạn hoặc không gia hạn, huỷ bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT,…Đây là yêu cầu quan trọng nhất của việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; các quyết định tố tụng của Viện kiểm sát sẽ mở ra hay kết thúc các hoạt động tố tụng của CQĐT và liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Các quyết định tố tụng có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với yêu cầu điều tra vụ án sẽ góp phần đặc biệt quan trọng trong việc chống làm oan, sai và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Đối với quyết định phê chuẩn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, nhất là biện pháp tạm giam, gia hạn tạm giam, Viện kiểm sát hai cấp phải nghiên cứu, cân nhắc thật kỹ, hạn chế áp dụng biện pháp này, nếu thật sự không cần thiết. Khi phát hiện căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn không còn thì phải kịp thời thay đổi, huỷ bỏ để bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
BLTTHS quy định Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Khoản 3 Điều 153), đây là nhiệm vụ quan trọng để Viện kiểm sát chống bỏ lọt tội phạm. Đối với những vụ án mà trước đó Viện kiểm sát đã có yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện, các quyết định khởi tố vụ án của Viện kiểm sát phải đảm bảo có căn cứ. Quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án của Viện kiểm sát phải chặt chẽ, nếu cần thiết phải tự mình tiến hành các hoạt động điều tra quan trọng để bảo đảm kết thúc điều tra đúng quy định của pháp luật. Tránh trường hợp Viện kiểm sát ban hành quyết định khởi tố vụ án nhưng không được điều tra hoặc điều tra không đầy đủ, sau đó phải đình chỉ điều tra vì không chứng minh được tội phạm.
Ngoài ra, trong trường hợp phát hiện có người phạm tội chưa bị khởi tố, đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện thì Viện kiểm sát có thẩm quyền trực tiếp quyết định khởi tố bị can; trường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra, Viện kiểm sát phát hiện có người khác thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị khởi tố thì ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung (Khoản 3 Điều 179 BLTTHS). Như vậy, phạm vi các trường hợp Viện kiểm sát khởi tố bị can đã mở rộng hơn và thực hiện ngay trong quá trình CQĐT đang tiến hành điều tra vụ án, chứ không phải đợi đến khi kết thúc điều tra như quy định của BLTTHS năm 2003. Trong quá trình thực hành quyền công tố đối với vụ án hình sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành các quyết định tố tụng khác như thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; biện pháp cưỡng chế, chuyển vụ án,…Tuy nhiên, nhất thiết các quyết định của Viện kiểm sát đã ban hành phải đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Thứ tư, Viện kiểm sát hai cấp phải kiểm sát chặt chẽ, kịp thời các hoạt động điều tra
BLTTHS có nhiều quy định mới nhằm đảm bảo cho hoạt động của Viện kiểm sát bám sát tiến độ “gắn chặt hơn” với hoạt động điều tra, bổ sung thêm các hoạt động điều tra bắt buộc phải có mặt của Kiểm sát viên như: Đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét,…(ngoài một số hoạt động điều tra bắt buộc phải có mặt của Kiểm sát viên như khám nghiệm hiện trường, tử thi quy định của BLTTHS năm 2003).
BLTTHS quy định, CQĐT có trách nhiệm chuyển bản gốc tài liệu, chứng cứ đã thu thập cho Viện kiểm sát trong thời hạn 05 ngày, nếu có trở ngại khách quan thì có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày (đối với vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của BLTTHS). Trong thời hạn 03 ngày Viện kiểm sát đóng dấu bút lục, tài liệu và bàn giao nguyên trạng biên bản, tài liệu cho CQĐT để đưa vào hồ sơ vụ án (Khoản 5 Điều 88); tăng nhiều loại văn bản CQĐT phải gửi trực tiếp cho Viện kiểm sát so với BLTTHS năm 2003.
Việc thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên sẽ làm cho hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát gắn chặt với hoạt động điều tra- đây là điều kiện rất quan trọng để thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Chỉ thị của Ngành và Kế hoạch công tác của Viện kiểm sát tỉnh. Khi hoạt động kiểm sát điều tra được thực hiện đầy đủ, chặt chẽ sẽ giúp cho Viện kiểm sát có đầy đủ tài liệu, thông tin để ban hành các quyết định tố tụng chính xác. Do đó, các đồng chí Viện trưởng, Trưởng các phòng 1,3, từng cán bộ, Kiểm sát viên phải thay đổi nhận thức, theo đó Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra phải là người “trong cuộc” cùng với Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, chứ không phải là người “đứng ngoài” để quan sát hoạt động của Điều tra viên rồi đưa ra các yêu cầu, xem xét đánh giá kết quả hoạt động của Điều tra viên. Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát hai cấp thì việc thực hiện các yêu cầu nêu trên không phải dễ dàng, bởi ở đâu có hoạt động điều tra thì ở đó phải có sự hiện diện của Viện kiểm sát để kiểm sát điều tra, nhằm đảm bảo cho hoạt động này diễn ra đúng quy định của pháp luật, và nếu tham gia vào tất cả các hoạt động điều tra thì Viện kiểm sát không đủ nhân lực.
- Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; đề cao kỷ cương, kỷ luật nghiệp vụ; thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố và  kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Viện kiểm sát hai cấp cần tiếp tục tham mưu cấp uỷ Đảng đề ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt chủ trương “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” theo tinh thần của các luật, bộ luật về tư pháp mới.
Thanh tra, Thủ trưởng các phòng nghiệp vụ tích cực, chủ động tham mưu Viện trưởng Viện KSND tỉnh tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ, phát hiện sớm và khắc phục, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế nghiệp vụ trong hoạt động của Ngành nói chung, trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự nói riêng.
Viện kiểm sát hai cấp phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát từ khi tiếp nhận tin báo đến khi kết thúc điều tra. BLTTHS năm 2015 tăng nhiệm vụ cho Viện kiểm sát trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự cũng là tăng trách nhiệm, nếu không thực hiện nghiêm túc là vi phạm. Một số hoạt động tố tụng như biện pháp điều tra đặc biết, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân là những vấn để mới, đòi hỏi từng đồng chí Lãnh đạo đến cán bộ, Kiểm sát viên hai cấp phải đổi mới tư duy, phối hợp chặt chẽ với CQĐT để thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Các nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền cho người bị buộc tội không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội – bản chất là quyền im lặng và hạn chế việc tạm giam sẽ tạo ra thách thức đối với hoạt động điều tra, khám phá án. Điều này buộc cán bộ kiểm sát phải thay đổi tư duy, nhận thức, phải tự nâng cao kiến thức pháp luật, tư duy án và tăng cường thực hành quyền công tố gắn chặt hơn nữa với Điều tra viên, với Cơ quan điều tra để giải quyết tốt hơn nhiệm vụ đấu tranh với tội phạm, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân./. 
Tác giả bài viết: Phạm Minh
Nguồn tin: VKSND tỉnh Bình Phước
- .

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 4
  • Hôm nay: 743
  • Tổng lượt truy cập: 3629468