Hoàn thiện các quy định xử lý tội phạm về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm

Thứ ba - 23/04/2019 05:01
Tóm tắt: Những thay đổi đáng kể trong chính sách hình sự liên quan đến xử lý tội phạm về động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý hiếm của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năn 2017 (sau đây viết tắt là BLHS năm 2015) có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nổ lực bảo vệ các loài vật này. Tuy nhiên, qua nghiên cứu và thực tiễn áp dụng cho thấy, nhiều tình tiết quy định tại Điều 234 và Điều 244 BLHS năm 2015 vẫn cần phải có văn bản hướng dẫn thi hành.
Các hành vi vi phạm liên quan đến động vật hoang dã (ĐVHD), động vật nguy cấp, quý, hiếm (ĐVNCQH), được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định chi tiết hơn so với BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và khung hình phạt cũng nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm về động vật hoang dã và có thể bị xử phạt tù đến 15 năm hoặc 2 tỷ đồng đối với cá nhân và phạt đến 15 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động từ 6 tháng đến 3 năm hoặc đình chỉ vĩnh viễn đối với pháp nhân. Với việc nâng mức tối đa của khung hình phạt cho tội phạm về ĐVHD và ĐVNCQH lên đến 15 năm tù, lần đầu tiên các đối tượng phạm tội có khả năng bị xử lý với mức hình phạt tương xứng với lợi nhuận to lớn mà chúng thu được từ ĐVHD và ĐVNCQH.
Mặc dù công tác quản lý động vật hoang dã ngày càng được tăng cường và chặt chẽ hơn, nhưng tình trạng săn bắn, bẫy bắt, mua bán, kinh doanh, vận chuyển và tiêu thụ trái pháp luật các loài ĐVHD và ĐVNCQH vẫn còn diễn biến phức tạp. Các đối tượng vi phạm có nhiều thủ đoạn tinh vi, khó phát hiện. Ðặc biệt, lợi dụng quy định thông thoáng trong phát triển gây nuôi động vật thông thường, không ít nhà hàng ăn uống ở nhiều nơi đã biến tướng, trà trộn tiêu thụ thịt thú rừng, sản phẩm của các loài động vật hoang dã với động vật gây nuôi các loại, nhằm qua mắt các cơ quan chức năng, nhưng chưa được phát hiện, ngăn chặn kịp thời để xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chế tài xử lý vẫn đang còn nhiều bất cập, chưa được hướng dẫn, giải thích một cách cụ thể.
So với Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì BLHS năm 2015 bổ sung thêm hành vi “tàng trữ” và mở rộng phạm vi đối tượng phải xử lý hình sự như đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án về tội vi phạm quy định về ĐVHD và ĐVNCQH chưa được xóa án tích và quy định chi tiết hơn như động vật thuộc Nhóm IB, hoặc phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp (Cites) và Nhóm IIB hoặc phụ lục II Công ước Cites. Đồng thời BLHS năm 2015 đã tách thành hai điều luật đó là hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã thành một điều luật (234, 244); theo đó, chỉ cần có những hành vi sau đây thì có thể bị xử lý hình sự đó là:
Một là, hành vi nuôi nhốt, tàng trữ ĐVHD và ĐVNCQH, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của ĐVHD và ĐVNCQH trái phép vì bất kỳ mục đích gì đều bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hai là, xử lý hình sự về hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép ngà voi có khối lượng từ 2kg trở lên; sừng tê giác từ 50g (không phân biệt chủng loại voi và tê giác).
Ba là, xử lý hình sự những vi phạm đối với cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bất kể số lượng, khối lượng, giá trị tang vật.
Bốn là, xử lý hình sự những vi phạm đối với động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB, hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp với số lượng từ 03 cá thể lớp thú, 07 cá thể lớp chim, bò sát hoặc 10 cá thể động vật lớp khác trở lên.
Năm là, xử lý hình sự những vi phạm đối với động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước Cites (trong đó có cả động vật thủy sinh và động vật rừng) trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc ĐVHD khác trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên hoặc trị giá dưới mức quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 của Điều 234 BLHS năm 2015 và các điểm c,d và đ khoản 1 Điều 244 BLHS năm 2015 nhưng đã bị xử phạt hành chính về các hành vi quy định nêu trên hoặc đã bị kết án về tội theo Điều 234 và Điều 244 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Ngoài ra, các tội phạm về ĐVHD và ĐVNCQH đều quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Theo đó, pháp nhân có thể bị xử phạt tối đa lên đến 15 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động từ 6 tháng đến 3 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn nếu vi phạm.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản vẫn còn tồn tại những vướng mắc, bất cập, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu tháo gỡ nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này, góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay, cụ thể:
Thứ nhất, một số văn bản hướng dẫn thực hiện thiếu cụ thể nên các cơ quan thực thi pháp luật áp dụng để  xử lý hành vi vi phạm gặp nhiều khó khăn, đó là: Tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP quy định những hành vi vi phạm (trừ hành vi nuôi động vật rừng nhóm IB) được xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự bao gồm hành vi vi phạm gây hậu quả mà tang vật là động vật rừng nhóm IB vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa quy định tại Điều 21, 22, 23 của Nghị định này. Theo quy định tại các Điều 21, 22, 23 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP thì các hành vi săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất, giết, vận chuyển mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh trái phép động vật rừng nhóm IB và các sản phẩm bộ phận của chúng chỉ bị xử lý hình sự nếu giá trị giá tang vật trên 100 triệu đồng; Động vật rừng hoặc bộ phận, dẫn xuất của chúng không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB có giá trị trên 160.000.000 đồng; vận chuyển động vật rừng hoặc bộ phận, dẫn xuất của chúng thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIB chỉ bị xử lý hình sự nếu giá trị trên 160.000.000 đồng. Nhưng theo khoản 1 Điều 234 BLHS năm 2015 thì các hành vi sau đây thì bị xử lý hình sự gồm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc động vật hoang dã khác trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 700.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc của động vật hoang dã khác trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 700.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
c) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thu lợi bất chính hoặc trị giá dưới mức quy định tại điểm a, điểm b khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Đây chính là vướng mắc, bất cập, bởi lẽ, căn cứ xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Nghị định số 157/2013/NĐ-CP và xử lý hình sự đều dựa vào giá trị quy ra tiền của động vật rừng, bộ phận hoặc dẫn xuất của chúng. Tuy nhiên, các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm bị nhà nước cấm lưu hành trên thị trường từ rất lâu, do đó việc định giá thuộc đối tượng vi phạm này cũng không thể căn cứ vào giá thị trường để Hội đồng định giá theo quy định.
Trong khi đó tại tại khoản 3 Điều 60 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: Trường hợp không thể áp dụng được căn cứ quy định tại khoản 2 Điều này để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm và thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá gồm có người ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm hành chính là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan là thành viên”…..
Như vậy, để xử lý hình sự về các hành vi vi phạm về quy định bảo vệ ĐVHD và ĐVNCQH thì hầu hết các vụ án hình sự phải thông qua thủ tục định giá tài sản. Ngày 07/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2018/NĐ-CP quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản, trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/5/2018 thay thế Nghị định số 26/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 15 của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP nêu trên quy định căn cứ để định giá tài sản như sau:
“1. Việc định giá tài sản không phải là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ sau:
a) Giá thị trường của tài sản;
b) Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định;
c) Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp;
d) Giá trong tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá (nếu có);
đ) Các căn cứ khác về giá hoặc giá trị của tài sản cần định giá.
2. Việc định giá tài sản là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau:
a) Giá mua bán thu thập được trên thị trường không chính thức tại thời điểm và tại nơi tài sản là hàng cấm được yêu cầu định giá hoặc tại địa phương khác;
b) Giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu hàng cấm (nếu có);
c) Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp;
d) Giá thị trường trong khu vực hoặc thế giới của hàng cấm do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông báo hoặc cung cấp thông tin;
đ) Giá niêm yết, giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành, sử dụng tại Việt Nam;
e) Giá thị trường trong khu vực và thế giới của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành, sử dụng tại các thị trường này;
g) Các căn cứ khác giúp xác định giá trị của tài sản cần định giá do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tin cậy của các căn cứ này…”.
Như vậy, với những tang vật của vụ án là loại không mua bán trên thị trường, thì Hội đồng định giá căn cứ vào quy định nào để định giá. Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp mà tang vật vi phạm cần định giá là động vật nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ theo Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Như vậy, nếu Hội đồng định giá có xác định được giá trị đối tượng bị xâm hại thì cũng không có cơ sở pháp lý nên việc lý không bảo đảm tính chính xác, dẫn đến dể oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, mà nguyên nhân chính do quy định của pháp luật trong lĩnh vực này chưa thật sự phù hợp với thực tiễn.
Thứ hai, trước đây Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính Phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng để truy tố, xét xử hành vi phạm tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý, hiếm, theo Điều 190 BLHS năm 1999, nhưng sau khi Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); để thực hiện điều luật đã được sửa đổi, bổ sung này. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/2013/NĐ-CP, mà theo đó, tại Mục 2 Phụ lục 1 Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP là đối tượng tác động của tội phạm quy định tại Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), song cho đến nay BLHS năm 2015 đã có hiệu lực thi hành nhưng Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nên trong thực tiễn áp dụng đã phát sinh vướng mắc, bất cập. Tác giả đưa ra một vụ án cụ thể:
Năm 2017, cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang tại trang trại chăn nuôi sinh sản và kinh doanh: Rắn, Kỳ đà, Ba ba, Nhím, Chồn từ nguồn gốc hợp pháp do ông Lê Văn H làm chủ trang trại và giao cho Lê Văn K là con trai quản lý, chăm sóc trong thời gian quản lý K đã có hành vi nuôi, nhốt: 11 cá thể Tê Tê Ja va (Manis javanica), 16 cá thể Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah).
Qua vụ án cụ thể nêu trên, quá trình xử lý có nhiều ý kiến không thống nhất. 
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Hành vi của K phải truy tố và xét xử theo khoản 2 Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và trong quá trình giải quyết vụ án thì không cần phải định giá tang vật là 16 cá thể là Rắn hổ mang chúa và 11 cá thể Tê Tê Ja va - Manis javanica.
Ý kiến thứ hai cho rằng: Hành vi của K chỉ  truy tố và xét xử theo khoản 1 Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và cần phải định giá tang vật là 16 cá thể là Rắn hổ mang chúa và 11 cá thể Tê Tê Ja va để có căn cứ xử lý. Bởi vì Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT ra đời năm 2007 trước ngày Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Thông tư chỉ hướng dẫn BLHS năm 1999 mà Điều 190 BLHS năm 1999 quy định cấu thành cơ bản đó là:  “ Người  nào săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Không quy định hành vi “nuôi, nhốt”. Nhưng K phạm tội trong trường hợp này là K có hành vi “nuôi, nhốt”. Cho đến khi BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì Điều 190 BLHS mới quy định hành vi “nuôi, nhốt”. Do vậy, theo nguyên tắc có lợi thì không thể áp dụng Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT để xứ lý K với tình tiết phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) mà chỉ truy tố và xét xử K theo khoản 1 Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tác giả đồng ý với ý kiến thứ nhất, bởi lẽ, theo quy định tại Nghị định số 157/2013/NĐ-CP, để có cơ sở xử lý hình sự đối với K thì không cần phải tiến hành định giá tang vật để xác định giá trị của 16 cá thể Rắn hổ mang chúa và 11 cá thể Tê Tê Ja va vì: Rắn hổ mang chúa và Tê Tê Ja va là đối tượng nằm trong danh sách loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và 16 cá thể Rắn hổ mang chúa nằm trong danh mục IB loài động vật nguy cấp, quý, hiếm. Bởi vì, tại điểm đ mục 4 Phần IV của Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT quy định “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là Rắn hổ mang chúa từ 4 con trở lên. Như vậy, phải xử lý hành vi của K theo khoản 2 Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bởi vì, tuy Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT ra đời trước khi BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Nhưng Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ban hành có hiệu lực từ năm 2013 đã quy định Rắn hổ mang chúa và Tê Tê Ja va là đối tượng nằm trong danh sách loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và các Điều 21, 22, 23 của Nghị định số 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với đối tượng có hành vi vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng; vận chuyển động vật rừng trái pháp luật; mua bán, cất giữ, kinh doanh động vật rừng trái với quy định của Nhà nước đối với động vật rừng thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, và khoản 3 Điều 19 Nghị định số 160/2013/NĐ-CP quy định: “Chế độ quản lý đối với loài thuộc Danh mục động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cp, quý, hiếm được xác định là loài ưu tiên bảo vệ được áp dụng theo quy định tại Nghị định này.
Thứ ba, việc các loài động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ có tên trong nhiều danh mục sẽ khiến công tác quản lý, bảo vệ và khai thác các loài này gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các cơ quan thực thi pháp luật. Cụ thể, theo Nghị đinh số 32/2006/NĐ-CP loài Tê tê Java (Mains javanica) được sắp xếp vào nhóm IIB; hành vi săn, bắt, bẫy, bắn, nuôi, nhốt trái phép loài này chỉ bị xử lý trách nhiệm hành chính theo Nghị định số 157/2013/NĐ-CP. Trong khi đó, BLHS năm 2015 đã quy định cùng hành vi này, đối tượng vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” theo Điều 234 BLHS năm 2015, bởi vì, theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP, thì loài Tê Tê Java (Manis javanica) được xếp vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Nhưng Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT cũng không quy định Tê Tê Ja va nằm trong danh mục để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ những vướng mắc, bất cập nêu trên tác giả đề nghị liên ngành tư pháp trung ương cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn các tội phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và động vật nguy cấp, quý, hiếm theo hướng:
Một là, sửa đổi nội dung hướng dẫn tại mục 4 Phần IV của Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT cho phù hợp với Điều 234 và điều 244 BLHS năm 2015, theo hướng các đối tượng bị tác động của tội phạm này là loài động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và Công ước Cites về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Hai là, Chính phủ sớm nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 157/2013/NĐ-CP; tại các điểm b khoản 8, điểm b khoản 9 Điều 21, điểm b khoản 9 Điều 22 và điểm b khoản 9, điểm b khoản 10 Điều 23 nên quy định trị giá tang vật để xác định mức xử phạt hành chính trị giá dưới 150.000.000 đồng để phù hợp với Điều 234 BLHS năm 2015.
Ba là, cần có văn bản hương dẫn theo hướng đối với các loại cá thể động vật mà nằm trong danh mục theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và Công ước Cites về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm thì khi xử lý về hình sự chỉ cần quy định số lượng để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự chứ không cần thiết phải định giá tài sản để làm căn cứ xử lý. 
Tác giả bài viết: Lê Văn Quang - Viện KSND huyện Lộc Ninh
Nguồn tin: tạp chí Kiểm sát số:16/2018
- .

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 8
  • Hôm nay: 1177
  • Tổng lượt truy cập: 3708652