Cần hướng dẫn thi hành quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

Chủ nhật - 24/03/2019 21:36
Tóm tắt: Qua hơn một năm áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 vào thực tiễn cho thấy, nhiều quy định của BLTTDS chưa được hướng dẫn chi tiết, một số quy định của Bộ luật đã được hướng dẫn nhưng chưa bao quát hoặc dự trù hết các tình huống xảy ra trong thực tiễn, một số vấn đề phát sinh mới chưa được bổ sung vào BLTTDS và chưa được hướng dẫn kịp thời, nhất là những phát sinh trong áp dụng các quy định về cấp, tống đạt văn bản tố tụng do Tòa án tiến hành. Trong khuông khổ bài viết này, tác giả nêu lên một số vướng mắc, bất cập về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và kiến nghị hoàn thiện qua thực tiễn áp dụng.
Với việc quy định chi tiết, đầy đủ thẩm quyền của Tòa án, quyền nghĩa vụ của người tham gia tố tụng và trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng, BLTTDS đã tạo điều kiện thuận lợi để Tòa án giải quyết các vụ, việc dân sự, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền lợi ích hợp của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Qua một thời gian áp dụng, nhiều quy định của BLTTDS chưa được hướng dẫn chi tiết. Đây là nguyên nhân chính tạo nên những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật này vào thực tiễn, đặt biệt là những khóa khăn, vướng mắc phát sinh trong việc áp dụng các quy định về cấp, tống đạt văn bản tố tụng do Tòa án tiến hành.
Thứ nhất, đối với việc tống đạt qua đường bưu điện Điều 173 BLTTDS năm 2015 quy định các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng:
Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
-  Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo;
-  Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;
-  Niêm yết công khai;
-  Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
-  Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương thức khác theo quy định tại Chương XXXVIII của Bộ luật này.
Như vậy, do BLTTDS không quy định rõ trình tự, thủ tục tiến hành nên thực tiễn các Tòa án gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Hiện nay, việc tống đạt văn bản tố tụng qua bưu điện qua hai hình thức: Tống đạt thường và chuyển phát nhanh. Trong mỗi hình thức được chia ra hai cách thức là không hồi báo và có hồi báo. Tuy nhiên, các văn bản thể hiện việc chuyển giao giữa Tòa án và bưu điện không có phần nội dung để Tòa án có thể ghi số hiệu, ngày tháng ban hành văn bản cũng như ghi thời gian triệu tập, mời đương sự, người tham gia tố tụng khác và càng không có mục nhân viên bưu điện phải giao tận tay cho người được tống đạt. Hơn nữa, việc tống đạt thường được chuyển qua nhiều đầu mối nên người giao tận tay cho người được tống đạt văn bản tố tụng không phải là người nhận văn bản từ cán bộ Tòa án ban đầu. Chính vì vậy, các văn bản chỉ chuyển đến địa chỉ mà Tòa án đã xác định trên bao thư còn việc người có tên trên bao thư ký nhận hay không, không được nhân viên bưu điện quan tâm. Cho nên, rất nhiều trường hợp người khác sẽ nhận thay nhưng nhân viên bưu điện không ghi rõ người nhận là ai, quan hệ như thế nào với người được tống đạt. Điều này dẫn đến trường hợp, khi đến thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đối chất và đưa ra xét xử… nếu đương sự được triệu tập không đến thì rất khó đảm bảo thủ tục tống đạt của Tòa án có hợp lệ hay không;
Thứ hai, về tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng theo khoản 1 Điều 174 BLTTDS quy định: “ việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định của BLTTDS thì được coi là hợp lệ”. Tuy nhiên, trong một số trường hợp do không quy định chế độ kiểm tra việc chuyển giao cho người được tống đạt từ người trung gian dễ dẫn đến việc người trung gian không giao hoặc giao không đúng thời hạn cho người được tống đạt dẫn đến việc người được tống đạt không thể biết việc Tòa án triệu tập mình để tham gia tố tụng.
Theo Điều 172  BLTTDS quy định, nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng. Tuy nhiên, điều luật không quy định cụ thể nghĩa vụ của họ trong việc nhận tống đạt văn bản tố tụng.
Thứ ba, về thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chưa phù hợp với thực tiễn. Điều 180 BLTTDS quy định thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thì các trường hợp phải thực hiện phương thức tống đạt trên phương tiện thông tin đại chúng bao gồm:
- Khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không đảm bảo cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo;
- Nếu có yêu cầu của các đương sự khác.
Tuy nhiên, quy định này không khả thi và trên thực tế rất ít Tòa án thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bởi vì, BLTTDS không có quy định loại trừ những văn bản tố tụng nào được bỏ qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên về nguyên tắc tất cả các văn bản tố tụng đều phải lần lượt được tống đạt qua các bước từ trực tiếp đến thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó, về nghĩa vụ chịu chi phí cho việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, theo khoản 2 Điều 180 BLTTDS thì đương sự chỉ phải chịu chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng khi họ là người người yêu cầu. Trong trường hợp họ không yêu cầu mà khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được tống đạt nhận được thông tin về văn bản thì đương sự không phải chịu lệ phí đăng báo, đài. Trường hợp này, lệ phí có được Tòa án chi ra hay không và nếu Tòa án chịu thì được quyết toán vào đâu, đây cũng là một trong những bất cập cần được hướng dẫn. Chính vì vậy, hầu hết các Tòa án thường chỉ dừng lại ở mức niêm yết công khai, việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ thực hiện khi đương sự có yêu cầu.
Thực tiễn trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự hiện nay đang có nhiều quan điểm chưa thống nhất như thế nào là niêm yết không đảm bảo cho nên cách hiểu và vận dụng còn khác nhau tác giả xin nêu ra một vụ án xin ly hôn nhưng hiện nay đang có nhiều quan điểm chưa thống nhất, cụ thể như sau:
Năm 2006, chị Ng và anh T đăng ký kết hôn tại UBND xã và có 01 con chung sinh năm 2007. Đến tháng 03/2011 do mâu thuẩn vợ chồng nên chị Ng và anh T sống lý thân. Ngày 13/04/2017, chị Ng có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân (TAND) huyện L yêu cầu giải quyết được ly hôn với anh T và được nuôi con.  Ngày 05/05/2017, TAND huyện L thụ lý vụ án đối với đơn khởi kiện của chị Ng để giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án, TAND huyện L đã triệu tập anh T đến Tòa án để viết bản tự khai, nhưng anh T không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do. Ngày 13/06/2017, Tòa án tiến hành xác minh tại địa chỉ cư trú của anh T, kết quả xác minh được chính quyền địa phương cung cấp: “Anh T đã đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương, hàng năm anh T chỉ về nhà khoảng 1- 2 lần, sau đó anh T lại đi…”. Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi đưa ra xét xử, anh T đều không có mặt tại địa chỉ cư trú do chị Ng cung cấp cho Tòa án và Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 BLTTDS. Vụ án hiện đang có 02 quan điểm không thống nhất, cụ thể như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc TAND huyện L đã làm đầy đủ các thủ tục niêm yết theo quy định tại Điều 179 BLTTDS nên Tòa án nhân dân huyện L đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với anh T để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ng, cho chị Ng được ly hôn với anh T và giao con chung cho chị Ng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là đúng theo quy định của BLTTDS;
Quan điểm thứ hai và cũng là quan điểm của tác giả cho rằng,  tại thời điểm chị Ng làm đơn khởi kiện thì anh T không có mặt tại địa chỉ cư trú mà chị Ng cung cấp cho Tòa án. Đây thuộc trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện vì chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS và hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04 ngày 05/05/2017 (Nghị quyết 04) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, do đó, việc Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của chị Ng là vi phạm những quy định nêu trên. Hơn nữa, vì anh T không có mặt tại địa chỉ cư trú tại thời điểm chị Ng khởi kiện, nên anh T không thể biết và không buộc phải biết việc khởi kiện của chị Ng, cũng như anh T không nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, nên không có căn cứ để cho rằng anh T cố tình giấu địa chỉ; do đó, Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung là không đúng theo hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết số 04.
Mặt khác, việc Tòa án nhân dân huyện L chỉ tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng mà không thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là không đảm bảo tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177, 180 BLTTDS.
Tại khoản 1 Điều 180 BLTTDS quy định: “Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo”. Rõ ràng, trong trường hợp này, vì anh T không có mặt tại địa chỉ cư trú trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không biết hiện đang ở đâu, do đó có căn cứ để cho rằng, nếu chỉ thực hiện thủ tục niêm yết công khai mà không thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thì anh T không thể nhận được thông tin về các văn bản tố tụng. Vì vậy, việc Tòa án nhân dân huyện L tiến hành giải quyết vụ án khi không đảm bảo tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng là vi phạm quy định tại các Điều 177, 180 của BLTTDS. Mặt khác, do không thu thập được lời khai của anh T về quan hệ hôn nhân với chị Ng trong thời gian chung sống có mâu thuẫn hay không, nên Tòa án giải quyết vụ án chỉ căn cứ vào lời khai của chị Ng là không đảm bảo căn cứ vững chắc.
Từ những vướng mắc nêu trên, đề nghị TAND tối cao và Bộ Truyền thông và  Thông tin cần có Thông tư liên tịch hướng dẫn về vấn đề tống đạt các văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính để đảm bảo các thủ tục tố tụng của Tòa án;
Đề nghị liên ngành TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng  theo hướng quy định một số văn bản bắt buộc phải qua các bước trong thủ tục cấp, tống đạt. Có như vậy, việc giải quyết vụ án của Tòa án mới đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án một cách không cần thiết.
Đồng thời tác giả đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 180 BLTTDS theo hướng “Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự khác. Trong trường hợp có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo thì Tòa án phải yêu cầu đương sự làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu thông báo chịu”.

Tác giả bài viết: Lê Văn Quang - Viện KSND huyện Lộc Ninh
Nguồn tin: Tạp chí kiểm sát số 05/2018
- .

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 13
  • Hôm nay: 2480
  • Tổng lượt truy cập: 3517116