CHẾ ĐỊNH NGƯỜI CHỨNG KIẾN THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

Thứ năm - 21/02/2019 20:15
hình minh họa

hình minh họa

Qua thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay, vẫn còn có nhận thức khác nhau về chế định người chứng kiến. Bài viết này, tác giả đưa ra một số ý kiến còn nhận thức khác nhau về chế định người chứng kiến trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời, đề xuất, kiến nghị một số nội dung cần sớn có hướng dẫn để nhận thức thống nhất.
          Từ khóa: Người chứng kiến; Bộ luật Tố tụng hình sự; vụ án hình sự.
           
1.Vướng mắc, bất cập về chế định người chứng kiến trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Chế định người chứng kiến được quy định tại Điều 67 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Thực tế cho thấy, trong cuộc sống hàng ngày ít có sự phân biệt giữa người làm chứng và người chứng kiến. Nhưng trong BLTTHS năm 2015 đã quy định thành hai điều luật để phân biệt sự khác nhau giữa người làm chứng và người chứng kiến, đó là:
“Người làm chứng là người biệt được những tình tiết có liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng” (khoản 1 Điều 66 BLTTHS)
Người chứng kiến là người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này” (khoản 1 Điều 67 BLTTHS).
Như vậy, người chứng kiến trong BLTTHS năm 2015 quy định là một trong 20 loại chủ thể tham gia tố tụng hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về người chứng kiến và sự tham gia của họ trong hoạt động tố tụng hình sự được ghi nhận tại các điều: 113, 115, 128, 133, 176, 177, 178, 190, 191, 194, 195, 197, 198,  201,  202, 203, 204. Những quy định của BLTTHS năm 2015 về sự tham gia của người chứng kiến nhằm đảm bảo tính công minh, khách quan của hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, quá trình thực hiện những quy định này thì thấy có một số vấn đề còn vướng mắc hạn chế như sau:
Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 đã quy định một số trường hợp không được làm người chứng kiến gồm: Người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc; Người dưới 18 tuổi; Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.
Như vậy, điều luật quy định người thân thích của người bị buộc tội không được làm người chứng kiến. Nhưng trong thực tế, có nhiều trường hợp công dân không muốn tham gia chứng kiến vì ngại mất thời gian, với nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên, những hoạt động điều tra cần phải có người chứng kiến như: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; khi lập biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản bắt người; kê biên tài sản; khi lập biên bản lấy lời khai của những người tham gia tố tụng nếu họ không biết chữ; hoạt động đối chất; nhận dạng; nhận biết giọng nói; khám xét người; khám xét chổ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện; thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông; tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; xem xét dấu vết trên thân thể; thực nghiệm điều tra. Khi địa điểm tiến hành những hoạt động tố tụng này diễn ra ở những nơi thông thường thì việc đảm bảo sự có mặt của người chứng kiến đã thực hiện được thuận lợi, nhưng nếu ở nơi xa xôi hẻo lánh (biên giới, hải đảo…. ) hoặc nơi mà không có phương tiện thông tin liên lạc cần thiết hoặc nơi nguy hiểm, không đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe của con người thì việc mời người chứng kiến là rất khó khăn ảnh hưởng đến yêu cầu điều tra tội phạm.
 Tại khoản 2 Điều 133 BLTTHS năm 2015 quy định: Trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên bản phải có điểm chỉ của người tham gia tố tụng và chữ ký của người chứng kiến.
Như vậy, trong trường hợp này: Ví dụ như trong quá trình đi tuần tra lực lượng Công an phát hiện đối tượng A có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra lấy lời khai đối tượng thừa nhận có tàng trữ trái phép chất ma túy và kiểm tra trong người đối tượng thu giữ được 01 gói ma túy có trọng lượng là 5 gam (heroin) nhưng đối tượng là người đồng bào dân tộc thiều số, không biết chữ nên buộc phải có người chứng kiến. Trong khi đó, đối tượng này ở trong vùng sâu, hẻo lánh, ngoài gia đình đối tượng thì không có ai để mời chứng kiến nên Cơ quan điều tra buộc phải đưa người thân của A vào tham gia tố tụng với tư cách là người chứng kiến theo đúng quy định tại Điều 133 BLTTHS năm 2015. Bởi lẽ, nếu không đưa người thân của A vào tham gia là người chứng kiến thì vi phạm thủ tục tố tụng. Nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 67 BLTTHS thì người thân thích không được làm người chứng kiến.
Thứ hai, tại khoản 2 Điều 133 BLTTHS năm 2015 quy định: Trường hợp người tham gia tố tụng có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến và những người tham gia tố tụng khác. Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.
Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 BLTTHS năm 2015 thì khi tiến hành tố tụng hình sự mà người tham gia tố tụng có nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc vì lý do khác (bị thương nặng ở tay …) mà không thể ký vào biên bản thì cần có người chứng kiến và họ có trách nhiệm xác nhận kết quả hoạt động tố tụng hình sự đó (thể hiện việc ký vào biên bản). Trong trường hợp này, người chứng kiến cần phải có mặt ngày từ lúc bắt đầu tiến hành hoạt động tố tụng hình sự hay chỉ khi đã lập xong biên bản mà người tham gia tố tụng hình sự không thể ký được thì mời người chứng kiến ký vào biên bản? Quy định này đang được hiểu và áp dụng chưa thống nhất.
Thứ ba, đối với người chứng kiến là đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn, đại diện cơ quan, tổ chức trong trường hợp khám xét, bắt người tại nơi cư trú, niêm phong đồ vật… bắt buộc phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn chứng kiến.
Khoản 2 Điều 113 BLTTHS năm 2015 quy định: Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến; khoản 2 Điều 195 BLTTHS năm 2015 quy định: Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó…..phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến; khoản 3 Điều 197 BLTTHS năm 2015 quy định: Khi thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phải có đại diện của cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản. 
Như vậy, những quy định này nhằm bảo đảm tính khách quan, kịp thời vì chính quyền xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức là nơi diễn ra việc khám xét, bắt người, do đó, việc họ chứng kiến thể hiện tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng BLTTHS năm 2015 hiện nay, trong thực tiễn áp dụng đang có những cách hiểu khác nhau không thống nhất, đó là:  Thế nào là đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn.
Ý kiến thứ nhất cho rằng, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn phải là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Bởi vì, chỉ có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn mới là chủ thể của người đại diện cho chính quyền.
Ý kiến thứ hai cho rằng,  đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn khi chứng kiến hoạt động tố tụng hình sự, không cần phải là Chủ tịch hay Phó Chủ tịch xã, phường, thị trấn, bởi vì, những người này hàng năm có rất nhiều vụ việc phải giải quyết, nếu áp dụng máy móc đại diện chính quyền phải là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn sẽ không thể thực hiện được và dẫn đến tình trạng ký khống để hợp lý hóa hồ sơ, vi phạm tố tụng; do đó, tùy từng trường hợp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể mời Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an xã, phường, thị trấn, làm người đại diện, bởi vì họ là người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn sẽ bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời, bí mật của hoạt động tố tụng.
Tại khoản 2 Điều 201 BLTTHS năm 2015 quy định khám nghiệm hiện trường: Khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm.
Như vậy, trong mọi trường hợp khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến. Thực tiễn cho thấy, Điều tra viên thường mời đại diện chính quyền địa phương là Trưởng, Phó Trưởng Công an xã, phường, thị trấn, Công an viên, dân quân thường trực hoặc bảo vệ tổ dân phố tham gia chứng kiến. Nhưng đối với những trường hợp này hiện nay đang có nhiều ý kiến không thống nhất, đó là:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, trong mọi trường hợp, khám nghiệm hiện trường phải mời người chứng kiến và người chứng kiến ở đây phải là công dân bình thường, không phải là người làm trong các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Bởi vì, mời những người này chứng kiến thì việc khám nghiệm hiện trường là không đảm bảo tính khách quan.
Ý kiến thứ hai cho rằng, trong mọi trường hợp, khám nghiệm hiện trường phải mời người chứng kiến và người chứng kiến ở đây chỉ cần Trưởng, Phó Trưởng Công an xã, phường, thị trấn thậm chí là Công an viên, dân quân thường trực, bảo vệ tổ dân phố tham gia chứng kiến là đầy đủ thành phần, Bởi vì, việc khám nghiệm hiện trường không chỉ ban ngày mà ở mọi lúc, mọi nơi. Khi nào, ở đâu có vụ việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm là Điều tra viên phải tổ chức khám nghiệm hiện trường. Đối với việc khám nghiệm hiện trường khi địa điểm tiến hành ở những nơi thông thường thì việc mời công dân chứng kiến rất thuận lợi. Nhưng nếu địa điểm tiến hành khám nghiệm hiện trường ở nơi xa xôi, hẻo lánh (biên giới, hải đảo…. ) hoặc nơi mà không có phương tiện thông tin liên lạc cần thiết hoặc nơi nguy hiểm mà không đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe của con người thì việc mời người chứng kiến là công dân gặp khó khăn mà buộc phải mời Trưởng, Phó Trưởng Công an xã, phường, thị trấn thậm chí là Công an viên, dân quân thường trực, bảo vệ tổ dân phố tham gia chứng kiến là đầy đủ thành phần.
Như vậy, qua thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự cho thấy, vẫn còn có những nhận thức chưa thống nhất về chế định người chứng kiến, dẫn đến việc đưa người chứng kiến tham gia tố tụng không đúng quy định pháp luật; do đó, đòi hỏi phải nâng cao nhận thức của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng để hiểu và áp dụng đúng quy định về người chứng kiến, nắm chắc những hoạt động điều tra nào cần có người chứng kiến tham dự, khi tiến hành các hoạt động điều tra đó phải mời thành phần, số lượng, đối tượng người chứng kiến đúng theo quy định của BLTTHS năm 2015.
  1. Đề xuất, kiến nghị
Đề nghị liên ngành Tư pháp trung ương cần sớm có văn bản hướng dẫn chi tiết những nội dung liên quan đến chế định người chứng kiến trong BLTTHS năm 2015, nhằm góp phần bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự được khách quan, đúng pháp luật; đồng thời, để các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự lựa chọn người chứng kiến được đúng đắn và thống nhất, cần quy định rõ một số nội dung sau:
Một là, nên quy định trong trường hợp lập hồ sơ ban đầu, khi thực hiện các hoạt động lấy lời khai, thu giữ vật chứng của người bị buộc tội do hoàn cảnh khách quan không thể mời người chứng kiến đến tham gia thì có thể mời những người thân thích của người bị buộc tội làm người chứng kiến.
 Hai là, nếu người tham gia tố tụng vì nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì phải ghi rõ lý do; người lập biên bản và người chứng kiến cùng ký xác nhận. Trong trường hợp này, người chứng kiến phải có mặt ngay từ khi bắt đầu tiến hành hoạt động tố tụng.
Ba là, trong trường hợp tiến hành tố tụng mà theo quy định phải có người chứng kiến, nhưng địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng ở nơi xa xôi, hiểm trở, không có phương tiện thông tin liên lạc cần thiết hoặc ở nơi nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe con người, khu vực biên giới, hải đảo thì có thể tiến hành mà không cần có sự tham gia của người chứng kiến, nhưng phải được ghi rõ lý do vào biên bản.
Bốn là, cần quy định đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn tại các điều: 113, 195, 198 BLTTHS năm 2015 có thể là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an xã, phường, thị trấn [1].
Năm là, cần quy định khi khám nghiệm hiện trường, người chứng kiến là công dân hoặc Trưởng, Phó Trưởng Công an xã, phường, thị trấn hoặc Công an viên, dân quân thường trực, bảo vệ tổ dân phố là đúng thành phần, đảm bảo tính khách quan.

1.Ý kiến này cũng đã được nêu tại bài viết “Bàn về chế định người chứng kiến trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” của tác giả Đinh Công Thành đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 17/2017.
Tác giả bài viết: Lê Văn Quang - Viện KSND huyện Lộc Ninh
Nguồn tin: Tạp chí Kiểm sát số 23/2018
- .

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 14
  • Hôm nay: 2480
  • Tổng lượt truy cập: 3517084