GIỚI THIỆU LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ NĂM 2019

Chủ nhật - 16/02/2020 15:15
GIỚI THIỆU LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ NĂM 2019

GIỚI THIỆU LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ NĂM 2019

Ngày 14/6/2019, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XIV đã thông qua Luật Thi hành án hình sự (sau đây viết tắt là Luật Thi hành án hình sự năm 2019); Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2019/L-CTN ngày 28/6/2019. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020 và thay thế Luật Thi hành án hình sự ngày 17/6/2010. Chúng tôi xin giới thiệu đến Chuyên viên, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên… Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Bình Phước nghiên cứu, thực hiện tốt công tác Kiểm sát Thi hành án hình sự và các độc giải quan tâm cùng biết.
Luật Thi hành án hình sự được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 17/6/2010 tại Kỳ họp thứ 7, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 (sau đây viết tắt là Luật Thi hành án hình sự năm 2010). Qua hơn 08 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010, công tác thi hành án hình sự đã được tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong giáo dục, cải tạo người phạm tội.
Bên cạnh kết quả đạt được, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ những bất cập, hạn chế, một số quy định đã không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; đặc biệt, từ năm 2013 đến nay, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới và nhiều bộ luật, luật có nội dung liên quan đến thi hành án hình sự nên các quy định của Luật Thi hành án hình sự hiện hành không bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy định của Hiến pháp và pháp luật có liên quan. Trong tình hình hiện nay, việc sửa đổi Luật Thi hành án hình sự năm 2010 là yêu cầu cấp thiết, bởi các lý do sau đây:
Một là, cụ thể hóa các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 trong Luật Thi hành án hình sự
Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Hiến pháp mới với những quy định tiến bộ theo hướng bảo vệ, đề cao quyền con người, trong đó, có quy định mang tính nguyên tắc: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013)”. Chương II Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong đó có nhiều nội dung liên quan đến người đang chấp hành án hình sự. Do vậy, cần thiết phải sửa đổi các quy định của Luật Thi hành án hình sự để cụ thể hóa các quy định Hiến pháp năm 2013 nhằm bảo đảm thực thi quyền của người đang chấp hành án.
Hai là, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, cụ thể là giữa Luật Thi hành án hình sự với Bộ luật Hình sự và các đạo luật khác có liên quan
Từ khi Luật Thi hành án hình sự năm 2010 có hiệu lực thi hành, Nhà nước ta đã ban hành nhiều bộ luật, luật để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 có liên quan đến trực tiếp đến công tác thi hành án hình sự như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.... Vì vậy, cần phải sửa đổi Luật Thi hành án hình sự năm 2010 để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, cụ thể là:
1. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) đã quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm (Điều 8) và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội được quy định trong 33 điều luật, trong đó, có 22 điều thuộc Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, 09 điều thuộc Chương các tội phạm về môi trường, 02 điều thuộc Chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Về chế tài áp dụng, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) quy định có 03 hình phạt chính (phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn), 03 hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn và phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính) được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; đồng thời, quy định có 03 nhóm biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội: (1) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; (2) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; (3) Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Cùng với đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có các quy định về trình tự, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Do vậy, cần bổ sung các quy định về việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong Luật Thi hành án hình sự để bảo đảm tính thống nhất của Luật Thi hành án hình sự với hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.
2. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung các quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung quy định tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66) nhằm thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, đồng thời giảm thiểu tối đa khả năng người đó tái phạm sau khi được tha tù. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Do vậy, cần bổ sung quy định về thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án và các quy định khác có liên quan trong việc quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
3. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung  năm 2017) đã sửa đổi quy định liên quan đến hình phạt cải tạo không giam giữ, án treo.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổi sung năm 2017) đã có nhiều quy định nhằm đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, theo đó, đã có nhiều quy định mới về áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, án treo. Cụ thể là:
- Về hình phạt cải tạo không giam giữ: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung quy định trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ; bổ sung quy định người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án.
- Về án treo: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung quy định về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách của người được hưởng án treotheo quy định của Luật Thi hành án hình sự; nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Do đó, cần sửa đổi quy định của Luật Thi hành án hình sự về nghĩa vụ của người chấp hành án cải tạo không giam giữ, người được hưởng án treo; việc lao động phục vụ cộng đồng của người chấp hành án cải tạo không giam giữ và các quy định khác có liên quan.
4. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi các quy định có liên quan đến biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không quy định  biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp, mà là biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự. Do vậy, cần sửa đổi các quy định về thi hành biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 cho phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). 
Ba là, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện Luật Thi hành án hình sự năm 2010
Qua 08 năm triển khai thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010 cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực cũng đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc, bất cập như: Chưa quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của phạm nhân, gây lúng túng trong công tác áp dụng như quyền được hưởng các chế độ, chính sáchđối với những phạm nhân được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hoặc những quyền khác có liên quan; chưa quy định cụ thể về đồ vật cấm mang vào Trại giam; công tác quản lý, bàn giao hồ sơ phạm nhân cũng còn nhiều bất cập trong thực tiễn thi hành; chưa quy định cơ quan có trách nhiệm áp giải, bàn giao phạm nhân là người nước ngoài có quyết định của Tòa án nhân dân có thẩm quyền chuyển giao về nước mà người đó là công dân để tiếp tục chấp hành bản án,chưa quy định việc gửi quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho Uỷ ban nhân dân cấp xã (cơ quan có nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành án) nơi người được hoãn chấp hành án về cư trú; chưa quy định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định trong trường hợp người được hoãn chấp hành án do bị bệnh nặng khi sức khỏe phục hồi nên rất lúng túng khi giải quyết các trường hợp này trong thực tiễn; chưa quy định việc đăng ký khai sinh cho trẻ em theo bố, mẹ vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ;vướng mắc trong công tác bố trí giam giữ riêng đối với những đối tượng đặc biệt như người đồng tính, người chuyển giới, người chưa xác định được giới tính; còn thiếu quy định về tiêu chuẩn chế độ ăn, mặc đối với con dưới 36 tháng tuổi, chế độ chăm sóc, khám chữa bệnh cho đối tượng này; chưa có quy định cụ thể giải quyết trục xuất đối với các trường hợp người nước ngoài chưa thực hiện xong hình phạt tiền hoặc nghĩa vụ bồi thường dân sự nên khó khăn trong thực hiện xuất cảnh khỏi Việt Nam...
Vì những lý do trên, để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, khắc phục những khó khăn, bất cập trong thực tiễn thi hành án hình sự những năm qua thì việc sửa đổi Luật Thi hành án hình sự năm 2010 là rất cần thiết.
PHẠM VI SỬA ĐỔI, BỐ CỤC CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ NĂM 2019, CỤ THỂ LÀ:
Về  phạm vi sửa đổi: So với Luật Thi hành án hình sự năm 2010, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh về thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; về thi hành bản án, quyết định về đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; về quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp.
Về bố cục của Luật: Luật Thi hành án hình sự năm 2019 có 207 điều, được quy định thành 16 chương, cụ thể như sau:
- Chương I (Những quy định chung) gồm 10 điều, từ Điều 1 đến Điều 10 quy định về phạm vi điều chỉnh; bản án, quyết định được thi hành; giải thích từ ngữ; nguyên tắc thi hành án hình sự; trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự; giám sát, kiểm sát, phổ biến, giáo dục pháp luật, hợp tác quốc tế, những hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự.
- Chương II (Hệ thống tổ chức thi hành án hình sự, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự) gồm 11 điều, từ Điều 11 đến Điều 21, quy định về hệ thống tổ chức thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu, Công an cấp huyện; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của trại giam, của trại tạm giam trong thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn của Uy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội, Tòa án trong thi hành án hình sự.
- Chương III (Thi hành án phạt tù), gồm 55 điều, được chia thành 04 mục, cụ thể như sau:
+ Mục 1 (Thủ tục thi hành án và chế độ quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân) có 26 điều, từ Điều 22 đến Điều 47, quy định về: Quyết định thi hành án phạt tù; thi hành quyết định thi hành án phạt tù; thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù; thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù; hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù; quyền và nghĩa vụ của phạm nhân; tiếp nhận người chấp hành án phạt tù; hồ sơ phạm nhân; giam giữ phạm nhân; chế độ học tập, học nghề của phạm nhân; chế độ lao động của phạm nhân; tổ chức lao động cho phạm nhân; sử dụng kết quả lao động của phạm nhân; xếp loại chấp hành án phạt tù; thủ tục đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; thủ tục miễn chấp hành án phạt tù; thực hiện trích xuất phạm nhân; khen thưởng phạm nhân; giải quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn; xử lý phạm nhân vi phạm; thông báo tình hình chấp hành án, phối hợp với gia đình phạm nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục cải tạo phạm nhân; tái hòa nhập cộng đồng; trả tự do cho phạm nhân; thi hành quyết định tiếp nhận, chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù.
+ Mục 2 (Chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân) có 09 điều, từ Điều 48 đến Điều 56, quy định về: Chế độ ăn, ở, mặc, tư trang, hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân; chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi; chế độ gặp, nhận quà của phạm nhân; thủ tục thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự; chế độ liên lạc của phạm nhân; chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân; thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân chết.
+ Mục 3 (Tha tù trước thời hạn có điều kiện) có 15 điều, từ Điều 58 đến Điều 72, quy định về: Thời điểm xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện; thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; việc lao động, học tập của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; việc kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; việc vắng mặt tại nơi cư trú của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; giải quyết trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc; xử lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ hoặc vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính; giải quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật; hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; trách nhiệm của gia đình người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
+ Mục 4 (Quy định đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi) có 4 điều, từ Điều 73 đến Điều 76, quy định về: Phạm vi áp dụng; chế độ quản lý, giáo dục, học văn hóa, học nghề, lao động, ăn, mặc, chăm sóc y tế, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và vui chơi giải trí, gặp liên lạc điện thoại với thân nhân của phạm nhân là người dưới 18 tuổi.
- Chương IV (Thi hành án tử hình) gồm 07 điều, từ Điều 77 đến Điều 83, quy định về: Quyết định thi hành án tử hình; Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng thi hành án tử hình; hồ sơ thi hành án tử hình; hoãn thi hành án tử hình; hình thức và trình tự thi hành án tử hình; giải quyết việc xin nhận tử thi, tro cốt, hài cốt của người bị thi hành án tử hình.
- Chương V (Thi hành án treo, án phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ) gồm 23 điều, được chia thành 03 mục, cụ thể như sau:
+ Mục 1 (Thi hành án treo) có 11 điều, từ Điều 84 đến Điều 94, quy định về: Quyết định thi hành án treo, thi hành quyết định thi hành án treo; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; nghĩa vụ của người được hưởng án treo; việc lao động, học tập của người được hưởng án treo; rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo; thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo; việc kiểm điểm người được hưởng án treo; giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo; xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo; trách nhiệm giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, gia đình đối với người được hưởng án treo.
+ Mục 2 (Thi hành án phạt cảnh cáo) có 01 điều (Điều 95) quy định về thi hành án phạt cảnh cáo.
+ Mục 3 (Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ) có 11 điều, từ Điều 96 đến Điều 106, quy định về: Quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ; thi hành quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; việc lao động, học tập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; thủ tục miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; xử lý vi phạm đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; trách nhiệm giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
- Chương VI (Thi hành án phạt cấm cư trú, quản chế) gồm 11 điều, được chia thành 02 mục, cụ thể như sau:
+ Mục 1 (Thi hành án phạt cấm cư trú) có 05 điều, từ Điều 107 đến Điều 111, quy định về: Thủ tục thi hành án phạt cấm cư trú; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú; quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm cư trú; thủ tục miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại; xử lý người chấp hành án phạt cấm cư trú vi phạm nghĩa vụ.
+ Mục 2 (Thi hành án phạt quản chế) có 06 điều, từ Điều 112 đến Điều 117, quy định về: Thủ tục thi hành án phạt quản chế; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án phạt quản chế về cư trú; quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế; giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế; xử lý người chấp hành án phạt quản chế vi phạm nghĩa vụ và thủ tục miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại.
- Chương VII (Thi hành án phạt trục xuất) gồm 07 điều, từ Điều 118 đến Điều 124, quy định về: Quyết định thi hành án phạt trục xuất; thông báo thi hành án phạt trục xuất; hồ sơ thi hành án phạt trục xuất; lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh; giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn; thực hiện buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam và chi phí trục xuất.
- Chương VIII (Thi hành án phạt tước một số quyền công dân), gồm 04 điều, từ Điều 125 đến Điều 128, quy định về: Thủ tục thi hành án phạt tước một số quyền công dân; tước quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước; tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước và tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.
- Chương IX (Thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định) có 03 điều, từ Điều 129 đến Điều 131, quy định về: Thủ tục thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; trách nhiệm thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
- Chương X (Thi hành biện pháp tư pháp) gồm 26 điều, được chia thành 03 mục, cụ thể như sau:
+ Mục 1 (Quy định chung về thi hành biện pháp tư pháp), có 04 điều, từ Điều 132 đến Điều 135, quy định về: Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp; cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp; nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thi hành biện pháp tư pháp; bảo đảm điều kiện thi hành các biện pháp tư pháp.
+ Mục 2 (Thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh) có 05 điều, từ Điều 136 đến Điều 140, quy định về: Thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, hồ sơ đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh; đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh; tổ chức điều trị cho người bị bắt buộc chữa bệnh; đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh; giải quyết trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh chết.
+ Mục 3 (Thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng) có 17 điều, từ Điều 141 đến Điều 157, quy định về: Thủ tục thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; hoãn, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; giải quyết trường hợp người phải chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng bỏ trốn; chế độ quản lý học sinh; thực hiện lệnh trích xuất học sinh; chế độ học văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động; kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh và tổ chức thi; chế độ sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí; chế độ ăn, mặc của học sinh; chế độ ở và đồ dùng sinh hoạt của học sinh; chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh trường giáo dưỡng; thủ tục giải quyết trường hợp học sinh chết; chế độ gặp thân nhân, liên lạc, nhận quà của học sinh trường giáo dưỡng; chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; khen thưởng, xử lý vi phạm đối với học sinh; thủ tục cho học sinh ra trường; chi phí tổ chức thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
- Chương XI (Thi hành án đối với pháp nhân thương mại) gồm 09 điều (từ Điều 158 đến Điều 166), quy định về: Cơ quan được giao nhiệm vụ thi hành án; quyết định thi hành án; thủ tục thi hành án; hồ sơ thi hành án; quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án; cưỡng chế thi hành án; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại; chuyển giao nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp pháp nhân thương mại tổ chức lại; cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp.
- Chương XII (Kiểm sát thi hành án hình sự) gồm 03 điều, từ Điều 167 đến Điều 169, quy định về: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án hình sự; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự; trách nhiệm thực hiện yêu cầu, quyết định, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát về thi hành án hình sự.
- Chương XIII (Bảo đảm điều kiện cho hoạt động thi hành án hình sự) gồm 06 điều, từ Điều 170 đến Điều 175, quy định về: Biên chế, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ thi hành án hình sự; bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thi hành án hình sự; trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ trong thi hành án hình sự; cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự; bảo đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự; chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự.
- Chương XIV (Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự) gồm 18 điều, được chia thành 02 mục, cụ thể như sau:
+ Mục 1 (Khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự) có 13 điều, từ Điều 176 đến Điều 189, quy định về: Quyền khiếu nại trong thi hành án hình sự; các trường hợp khiếu nại về thi hành án hình sự không được thụ lý giải quyết; thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự; thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân; quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại trong thi hành án hình sự; quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại trong thi hành án hình sự; nhiệm vụ và quyền hạn của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự; thời hạn giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự; tiếp nhận, thụ lý khiếu nại trong thi hành án hình sự; hồ sơ giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự; trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự; nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự; trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự; nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự.
+ Mục 2 (Tố cáo và giải quyết tố cáo trong thi hành án hình sự) có 04 điều, từ Điều 190 đến Điều 193, quy định về: Người có quyền tố cáo trong thi hành án hình sự; quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự; thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo; trách nhiệm giải quyết tố cáo.
- Chương XV (Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước trong quản lý công tác thi hành án hình sự) gồm 10 điều, từ Điều 194 đến Điều 205, quy định về: nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thi hành án hình sự; trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thi hành án hình sự.
- Chương XVI (Điều khoản thi hành) gồm 02 điều, Điều 206 và Điều 207, quy định về: hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp.
 
Tác giả bài viết: Ts. Nguyễn Quốc Hân - Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh
Nguồn tin: (Tổng hợp)
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 19
  • Hôm nay: 1755
  • Tổng lượt truy cập: 4189342