Một nét ứng xử rất đẹp: Bác Hồ và Tướng Nguyễn Sơn

Thứ ba - 22/10/2019 14:39
Ngày 20-01-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 111-SL phong quân hàm Thiếu tướng cho Nguyễn Sơn cùng với Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Lê Thiết Hùng,...
Ngày 20-01-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 111-SL phong quân hàm Thiếu tướng cho Nguyễn Sơn cùng với Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Lê Thiết Hùng,... sau khi ký sắc lệnh 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. Ngày 25-01-1948, Chủ tịch ký sắc lệnh phong quân hàm Trung tướng cho Nguyễn Bình. Đây là đợt phong quân hàm đầu tiên trong quân đội ta gồm 11 vị tướng. Trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, gian khổ, lễ phong quân hàm đợt I vẫn được tổ chức trọng thể và kịp thời. Trong 11 vị tướng được phong quân hàm đợt này có hai vị trước kia đã làm việc với Bác Hồ trong thời kỳ Bác hoạt động ở Trung Quốc. Họ cùng học trường Hoàng Phố khoá 4 ở Quảng Châu, Trung Quốc và đã từng chỉ huy quân đội Trung Quốc, chỉ khác có một điều: “Nguyễn Sơn chỉ huy quân đội cộng sản còn Lê Thiết Hùng chỉ huy quân đội Quốc dân Đảng”.
Sau khi có Sắc lệnh, có tin đồn đến Việt Bắc là Nguyễn Sơn không chịu nhận sắc lệnh phong thiếu tướng, hơn thế còn nói rằng mình là “thừa tướng” rồi, không cần gì đến Thiếu tướng... hoặc cấp Thiếu tướng xin phong cho đồng chí Đào Chính Nam, Khu phó, còn tôi xin nhận cấp đại tá thôi vì tài đức kém, v.v...
Nguyễn Sơn là một tướng có tài, đã từng tham gia Vạn lý trường chinh, có năng lực trên nhiều mặt. Tuy thế ông lại chủ quan, là Tư lệnh Liên khu IV, ông không giữ được đoàn kết chặt chẽ với các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền trong khu. Nguyễn Sơn, dù đã là cán bộ cao cấp của Đảng bạn, nhưng cũng mới về Việt Nam mấy năm. Vả chăng, với quân hàm Thiếu tướng, khi ấy Nguyễn Sơn cũng chỉ đứng sau hai người là Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Bình, đứng ngang hàng với Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và nhiều cán bộ quân đội tài năng khác. Nhưng Nguyễn Sơn đã trì hoãn Lễ thụ phong do ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV, được Chủ tịch nước ủy nhiệm tổ chức.
Một chiều đầu năm 1948, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng cơm chiều với đồng chí Hoàng Đạo Thúy, liên lạc đặc biệt chuyển đến một công văn “hoả tốc”, Người hỏi:
- Ở đâu gửi đến? - Dạ, của ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV về việc Nguyễn Sơn...
Người khoát tay:
- Biết rồi! Chú cứ cất đi.
Và Người tiếp tục câu chuyện. Lát sau, Người lấy bút viết lên tấm thiếp những dòng chữ Hán sau:
Tặng Sơn đệ: Đảm dục đại; Tâm dục tế; Trí dục viên; Hạnh dục phương.
12 chữ này lấy từ câu nói của Tôn Tư Mạo: “Đảm dục đại nhi tâm dục tiểu, trí dục viên nhi hạnh dục phương. Niệm niệm hữu nhi lâm dịch nhật. Tâm tâm thường tự quá kiều thi”. Dịch nghĩa là “Cái mật thì phải cho lớn gan rộng dài; cái tâm địa mình phải cho tế nhị, chín chắn; cái trí thì phải cho tròn trịa mềm mỏng; cái nết thì phải cho vương vức ngay thẳng, cứng cáp (ấy là phép làm người), khi tưởng thì phải tưởng như là ngay tới trước mặt giặc vậy; cái lòng thì phải e sợ như lúc đi ngang cây cầu vậy (chỉ lòng phải dè, phải sợ luôn luôn)”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy đoạn trước 12 chữ, bỏ đoạn sau, coi như người đọc đã biết, thay chữ “tiểu” bằng chữ “tế”. Theo Quang Đạm, “tiểu” là nhỏ, nhưng “tế” còn nhỏ hơn nhiều (tế nhị, tế bào) và khi “tế” đi với “đại” còn có nghĩa bao dung, rộng lượng.
Bằng cách thay thế “tế”, người đọc có thể hiểu rằng “Cái tâm của mình phải thật cho khéo léo, tế nhị, chín chắn... hơn nhiều lần so với cả người xưa đã dạy”.
Chủ tịch nước ký sắc lệnh phong tướng mà tướng “chê” thấp, không nhận sẽ thật là quá đáng. Hành động trên có thể quy vào tội “phạm thượng” vô kỷ luật, vô tổ chức. Ở thời phong kiến, người phạm tội ấy khó toàn mạng. Trong trường hợp này, nếu ra một mệnh lệnh chỉ trích, phê bình, cảnh cáo có thể sẽ làm Nguyễn Sơn phản ứng thêm. Nhưng nếu không có một hình thức nào để Nguyễn Sơn chấp nhận Sắc lệnh thì cũng không được, phép nước chẳng ra sao, kỷ cương bị xem nhẹ. Và cái chính là làm sao giải quyết cho “trong ấm, ngoài êm”, không đẩy người có lỗi vào ngõ cụt, lại khiến người ấy phục thiện, khơi dậy cái tốt, cái mạnh, đồng thời tránh để địch lợi dụng mâu thuẫn, làm hại cho sự nghiệp chung. Thêm nữa, cách giải quyết phải làm sao vẫn thể hiện được tình yêu thương, tôn trọng cá tính của cán bộ, tỏ rõ sự đại lượng, tính bao dung nhằm cảm hoá người mắc lỗi, đồng thời có sức thu phục nhân tâm...
Chắc khi ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy nghĩ, cân nhắc kỹ hoàn cảnh, trình độ tác phong của Nguyễn Sơn để chọn phương án thích hợp.
- Không lấy tư cách là Chủ tịch nước, dùng quyền hành, mà với tình anh em để “bảo nhau”. Gửi người em tên là Sơn, thư của người anh có cùng họ Nguyễn, không phải là mệnh lệnh mà là một bài thơ “tặng”, coi như không hay biết việc gì, không đề cập gì, chỉ nói ý cho họ hiểu lỗi lầm của họ.
- Khen Nguyễn Sơn làm được như 12 chữ của Tôn Tư Mạo, nhưng khuyên phải làm tốt hơn nữa... (bằng cách thay chữ “tiểu” bằng chữ “tế”).
- Cử đặc phái viên của Chính phủ và của Chủ tịch nước là Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - một Bộ trưởng đã hoạt động cách mạng trước 1945, có quen biết Nguyễn Sơn vào khu IV chủ trì lễ phong cho Nguyễn Sơn (mà không để cho cán bộ khu “đứng ra chủ trì”).
Theo những người công tác gần Nguyễn Sơn, khi nhận được 12 chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Sơn phải thốt lên:
- “Ông cụ khiếp thật!”
Liền đó, ông báo cho anh em trong khu Bộ chuẩn bị đón Đặc phái viên và nhận sắc phong ngay.
Thực hiện xong nhiệm vụ, tháng 6-1948, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trở lại Việt Bắc. Chiều ngày 14 cùng tháng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổ chức một bữa cơm thân mật, mời Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tới dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có mặt trong bữa cơm đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói, viết thường lấy “điển tích”, “chữ nghĩa của thánh hiền”, câu trích của các sách Luận ngữ, Đại học... hoặc nhắc lại nguyên văn, hoặc lập một mệnh đề hoàn toàn mới. Đó là một đặc điểm phong cách của Người.
Trong cách ứng xử với Nguyễn Sơn, tuy cũng là dùng “chữ nghĩa”, nhưng còn bao hàm một phong cách thuyết phục con người rất hiệu quả, kín đáo, sắc sảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách đó bắt nguồn từ tư tưởng đại đoàn kết, đại hoà hợp của Chủ tịch Hồ Chí Minh: từ tư tưởng coi con người là qúy, là trọng, từ cái tâm, cái đức, cái nghĩa, cái tình của Người đối với mọi người.
Trong trường hợp với Nguyễn Sơn, cách ứng xử - phương án mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn thật chính xác, thật tối ưu. Chỉ qua một giọt nước, ta có thể thấy được vị mặn của biển cả. Chỉ một ứng xử của Hồ Chí Minh với Nguyễn Sơn, ta có thể rút ra được nhiều bài học, nhất là trong quản lý, lãnh đạo ở thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay.
Sau đó ít hôm, trên một chuyến thuyền của đồng chí Phạm Ngọc Thạch xuôi dòng sông Mã ra Sầm Sơn thăm bộ đội và kiểm tra cách bố phòng... Thạch Kim nhắc lại chuyện phong tướng vừa rồi, đồng chí Phạm Ngọc Thạch nói rõ thêm: “Qùa tặng nhân dịp phong tướng của Bác cho anh Nguyễn Sơn, tuy chỉ là một tấm danh thiếp, anh Sơn đã tỏ ra rất cảm động. Riêng tôi còn thấy Bác là người chu đáo, kỹ lưỡng ít ai có, không phải chỉ trong nội dung giấy tờ, mà còn chu đáo, kỹ lưỡng trong cách làm, cách ứng xử. Bác dặn tôi khi vào tới nơi đề cập tấn phong thì đưa ngay tấm danh thiếp. Đúng như ý Bác đã sớm lường, xem xong danh thiếp, qua suy nghĩ, thái độ anh Sơn vui vẻ, nhuần nhã hẳn lên và tiếp thu một cách thoải mái, nhẹ nhàng. Tôi không phải thuyết phục nhiều lời gì nữa như đã chuẩn bị trên đường đi[1]. Ứng xử của Bác Hồ với Tướng Nguyễn Sơn là lấy đại cuộc làm trọng, dùng tình để cảm hóa, thể hiện sự bao dung bởi Bác hiểu rõ cá tính, tính cách, tâm can Nguyễn Sơn. Cách ứng xử này được thực hiện một cách tinh tế và rất cụ thể:
Một là, không lấy tư cách Chủ tịch Nước và người đứng đầu Chính phủ ra mệnh lệnh, phê bình và có thể bắt tội không thi hành phép nước (nếu ở triều vua phong kiến tướng này sẽ không bảo toàn được tính mạng) mà lấy tư cách người anh nói chuyện với người em, gửi cho người em 12 chữ chân tình.
Đã là anh em thì nhẹ nhàng khuyên nhủ, bảo nhau cũng hướng về cái tốt đẹp, đạo lý ở đời, Nguyễn Sơn là người có cá tính cương nên Bác dùng nhu "lạt mềm dễ buộc". Xưa Lão Tử từng nói: "Cái mà thiên hạ cho là rất mềm lại thường thắng được cái rất cứng của thiên hạ" (Thiên hạ chi chi nhu, trù sinh thiên hạ chi phi kiên).
Hai là, Nguyễn Sơn vốn là người trọng văn hóa, yêu thích văn chương nên tấm thiệp "Tặng Sơn đệ", Bác lấy chữ từ thơ của một danh nhân để khen Nguyễn Sơn, khẳng định tài - đức của Nguyễn Sơn nhưng cũng ngầm ý nhắc nhủ đã tốt rồi cần tốt hơn nữa, nhất là cần tinh tế, chín chắn hơn, cần phải tự mình sửa mình để hoàn thiện mình.
Ba là, việc cử đặc phái viên của Chính phủ vào Liên khu IV chủ trì lễ thụ phong là Bác hiểu tường tận căn nguyên. Không để người cùng cấp chủ trì lễ thụ phong, vừa giữ được thể diện vừa ưu ái không làm mất lòng tự trọng của Nguyễn Sơn, "buộc" Nguyễn Sơn không thể không chấp nhận. Phép nước không bị tổn hại. Sắc lệnh được thi hành.
Bốn là, ở đời xử sự với nhau cần đại lượng khoan hòa. Cách hành xử của Bác với Nguyễn Sơn ngầm ý như thế khi Bác dùng chữ tế thay cho chữ tiểu và tế đi với đại thì đại có nghĩa là đại lượng, bao dung.
Những cán bộ cấp dưới của tướng Nguyễn Sơn cho biết, khi nhận được thiệp "Tặng Sơn đệ" bỗng ông ngộ ra tất cả, hoàn toàn tâm phục khẩu phục, thốt lên: - Ông cụ này khiếp thật! Và, lập tức chỉ thị ngay cho cán bộ trong Liên khu khẩn trương chuẩn bị lễ thụ phong. Tướng quân Nguyễn Sơn đã lấy 12 chữ Bác Hồ tặng, hoàn thiện cuộc đời binh nghiệp của mình, đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và Trung Quốc, để trở thành một Lưỡng quốc tướng quân! Chúng ta thấy đó cũng là lời dạy bảo chí tình của Bác không những đối với một vị tướng mà cả cán bộ, nhân dân ta và cùng là bài học cho mỗi chúng ta nói chung và bản thân tôi nói riêng để thực hiện chuyên đề năm 2018” “Xây dựng phong cách tác phong công tác cả người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Đề nghị các đồng chí trong chi bộ nếu ý kiến của mình và liên hệ với bán thân về học tập theo phong cách, tác phong của người đứng đầu, của cản bộ, đảng viên thông qua câu chuyện trên./.


[1] Theo Minh Quang, trích trong sách: Nguyễn Sơn vị tướng huyền thoại, Nxb. Trẻ, Tp.HCM.2001, tr.83-89.
 

Tác giả bài viết: Quốc Hân
Nguồn tin: Theo http://www.baonghean.vn/
- .

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Truy cập

  • Đang truy cập: 26
  • Hôm nay: 832
  • Tổng lượt truy cập: 3704902